Nghe Trọn Bộ Kinh Vu Lan Bồn Báo Hiếu Có Chữ Và File MP3

Kinh vu lan báo hiếu cho cha mẹ được nhiều cao tăng trì tụng như Thích Từ Thọ và Thích Huệ Duyên, Cùng phatphap.me tìm hiểu nhé

Kinh Vu Lan tuy thuộc Đại thừa, nhưng bên trong vẩn mang tinh thần Nguyên thủy. Thế nên việc tìm hiểu kinh Vu Lan trong sự liên hệ với các bài kinh Tiểu Sư Tử Hống, Ước Nguyện trong Kinh Trung Bộ thuộc Nguyên thủy là điều rất thú vị. Chúng tôi xin mạn phép cùng các bạn tìm hiểu về vấn đề này.

   Kinh Vu lan ghi lại những lời Đức Phật dạy chúng ta về lòng thương yêu, bổn phận của con cái đối với cha mẹ hiện tiền hay quá cố, đối với những người đang trầm luân trong những khổ cảnh, nghịch cảnh và cách thức thể tình cảm và bổn phận ấy bằng những việc làm cụ thể, nhân dịp  thưa hỏi của Ngài Mục kiền Liên.

  Bài kinh tuy ngắn, nhưng ý nghĩa vừa cao vợi, hướng thượng, lại vừa thiết thực, đáp ứng lòng từ bi, hiếu thảo của mọi người mong muốn đền ơn, đáp nghĩa đấng sinh thành, cứu giúp cha mẹ, người ơn, người thân và những người quen biết hay không quen biết đang phải chịu cảnh khổ. Đồng thời mở ra cho chúng ta những người con, đồng thời là những bậc cha mẹ trong tương lai, con đường thực hành để đi đến giải thoát khổ đau ngay trong kiếp sống hiện tại, hay hơn nữa, là tạo nền tảng để trong tương lai được giải thoát hoàn toàn, tức không còn bị chi phối trong vòng luân hồi nơi lục đạo.

   Kinh Vu Lan tuy thuộc Đại thừa, nhưng bên trong vẩn mang tinh thần Nguyên thủy. Thế nên việc tìm hiểu kinh Vu Lan trong sự liên hệ với các bài kinh Tiểu Sư Tử Hống, Ước Nguyện  trong Kinh Trung Bộ thuộc Nguyên thủy là điều rất thú vị. Chúng tôi xin mạn phép cùng các bạn tìm hiểu về vấn đề này.

Kinh Vu Lan tuy thuộc Đại thừa, nhưng bên trong vẩn mang tinh thần Nguyên thủy. Thế nên việc tìm hiểu kinh Vu Lan trong sự liên hệ với các bài kinh Tiểu Sư Tử Hống, Ước Nguyện trong Kinh Trung Bộ thuộc Nguyên thủy là điều rất thú vị. Chúng tôi xin mạn phép cùng các bạn tìm hiểu về vấn đề này.

   Kinh Vu lan ghi lại những lời Đức Phật dạy chúng ta về lòng thương yêu, bổn phận của con cái đối với cha mẹ hiện tiền hay quá cố, đối với những người đang trầm luân trong những khổ cảnh, nghịch cảnh và cách thức thể tình cảm và bổn phận ấy bằng những việc làm cụ thể, nhân dịp  thưa hỏi của Ngài Mục kiền Liên.

  Bài kinh tuy ngắn, nhưng ý nghĩa vừa cao vợi, hướng thượng, lại vừa thiết thực, đáp ứng lòng từ bi, hiếu thảo của mọi người mong muốn đền ơn, đáp nghĩa đấng sinh thành, cứu giúp cha mẹ, người ơn, người thân và những người quen biết hay không quen biết đang phải chịu cảnh khổ. Đồng thời mở ra cho chúng ta những người con, đồng thời là những bậc cha mẹ trong tương lai, con đường thực hành để đi đến giải thoát khổ đau ngay trong kiếp sống hiện tại, hay hơn nữa, là tạo nền tảng để trong tương lai được giải thoát hoàn toàn, tức không còn bị chi phối trong vòng luân hồi nơi lục đạo.

   Kinh Vu Lan tuy thuộc Đại thừa, nhưng bên trong vẩn mang tinh thần Nguyên thủy. Thế nên việc tìm hiểu kinh Vu Lan trong sự liên hệ với các bài kinh Tiểu Sư Tử Hống, Ước Nguyện  trong Kinh Trung Bộ thuộc Nguyên thủy là điều rất thú vị. Chúng tôi xin mạn phép cùng các bạn tìm hiểu về vấn đề này.

Nghe Trọn Bộ Kinh Vu Lan Bồn Báo Hiếu Có Chữ Và File MP3

SƠ LƯỢC NỘI DUNG KINH VU LAN

 Nội dung kinh vu Lan gồm 3  phần:

Phần 1:  Nguyên nhân Đức Phật thuyết kinh

- Ngài Mục Kiền Liên là đại đệ tử của Thế Tôn, với lòng hiếu thảo mong muốn giúp đở mẹ mình đã lâu, nay nhân dịp Ngài chứng đắc sáu phép  thần thông, liền muốn dùng những thần thông ấy tìm xem người mẹ quá cố của mình hiện thời đang ở đâu, để cứu giúp, báo đáp ân đức sinh thành.

- Ngài dùng Thiên nhản thông để nhìn suốt khắp sáu cõi, thì biết rằng mẹ mình đang ở cõi ngạ quỹ, bị bỏ đói chỉ còn trơ da xương, khốn khổ vô cùng. Thấy vậy, Ngài liền mang cơm đến cho mẹ ăn.

- Được cơm, mẹ Ngài vội lấy tay trái che dấu không cho ai thấy, tay phải bốc cơm mà ăn. Nhưng thương thay, nắm cơm vừa tới miệng liền biến thành cục lửa than cháy bỏng, nên không thể nào ăn được, cứ như thế tái diển mãi, tình cảnh rất thương tâm.

- Ngài Mục Kiền Liên không thể nào cứu giúp mẹ, rất bi ai, liền trở về bạch với Đức Phật sự việc như thế để nhờ Thế Tôn giúp đở.

Phần 2:  Thế Tôn chỉ dạy Ngài Mục Kiền Liên con đường hay phương pháp để cứu mẹ mình thoát khỏi thảm cảnh.

- Thế Tôn giải thích cho ngài Mục Kiền Liên rỏ, vì căn tánh  tham sân si của mẹ Ngài quá sâu dày, bất thiện nghiệp quá nặng nề, nên phải thọ quả báo tương ứng. Thế nên không phải chỉ riêng một mình Ngài Mục Kiền Liên không cứu được mẹ mình, mà thậm chí các vị đạo sỹ, các vị thiên thần, địa thần, quỹ thần, cho đến Tứ thiên vương cũng không thể làm gì được.

- Chỉ có biện pháp duy nhất là phải nhờ uy lực của chư Tăng trong mười phương (Thập phương tăng) mới cứu đặng mẹ ngài Mục kiền Liên cùng những người khổ nạn khác được thoát khỏi khổ cảnh (siêu thoát).

- Nhân ngày Tự tứ vào ngày rằm tháng 7, các hiền thánh tăng là các vị tỷ-kheo đang tu thiền định nơi rừng núi, đến các vị đã chứng đắc bốn đạo quả, hay là các vị tỷ kheo thuộc hàng Thanh văn, Duyên Giác đủ sáu phép thần thông giáo hóa tự tại, hay là các  Bồ tát Đại sĩ thuộc hàng Thập địa đang hiện thế phương tiện tỷ-kheo, tất cả đều quy tụ trong Tăng chúng đồng đẳng nhất tâm tập hợp về cùng một trú xứ để thọ lễ Tự tứ.

- Vì tất cả các vị tỷ-kheo tụ hợp về thọ lễ Tự tứ đều là những người có đầy đủ giới hạnh trang nghiêm, có chánh định thù thắng, có chánh trí tuệ thù thắng nên tạo thành giới pháp đạo đức sâu rộng mênh mông, có oai lực cảm ứng, có thần lực hộ trì chiêu cảm, có hiệu lực tác động thật là vô cùng linh ứng, quảng đại, vô biên.

- Vào ngày Tự tứ vào rằm tháng bảy này, chúng ta, mỗi người hãy vì cha mẹ hiện tại và trong bảy đời quá khứ, cùng những người đang ở trong vòng khổ nạn mà sửa soạn các loại đồ ăn thức uống, quả củ, trái cây đủ loại hương vị, ngon bổ, thượng vị, chay tịnh; các loại nhang đèn, hương hoa thanh tịnh mà dâng cúng dường các vị Hiền thánh tăng.

       Khi thực hiện các điều trên với lòng thành kính thì cha mẹ và bà con trong đời này, nếu đã quá vãng thì được thoát khổ trong ba đường (địa ngục, ngạ quỹ, súc sinh) không còn cảnh đói khổ; nếu cha mẹ đang còn sống thì được hưởng phước lạc sống lâu; đến như cha mẹ trong bảy đời sẽ được tái sinh nơi Thiên giới Tha hóa tự tại.

-  Các món cúng dường  chay  tịnh được đặt trước bàn thờ Phật tại tư gia hay trong các ngôi chùa, tháp. Trước khi thọ trai các vị Thập phương tăng chúng dùng định lực chú nguyện cho trai chủ, chú nguyện cho đến cha mẹ bảy đời của trai chủ với năng lực hộ trì từ oai lực vô biên của giới định tuệ sâu thẳm.

-   Sau khi Ngài Mục Kiền Liên thực hiện lời chỉ dạy của Thế Tôn tức thời tiếng rên la bi thảm của mẹ Ngài không còn nữa và trong ngày ấy bà được thoát khỏi cảnh khổ trong kiếp ngạ quỷ.

 Phần 3 : Thế Tôn chỉ dạy bổn phận và phương pháp thể hiện hiếu thảo đối với cha mẹ của tất cả mọi người.

-  Đức Phật dạy, bất cứ ai từ hàng vương công phú quý đến hạng nghèo hèn cùng khổ đều có thể thực hiện lòng hiếu thảo của mình đối với cha mẹ hiện tiền hay quá cố bằng cách vào ngày rằm tháng bảy, vào ngày Tự tứ sửa soạn trai lễ cúng dường Thập phương tăng, cầu nguyện cho cha mẹ đang còn sống được sống lâu trăm tuổi, không bịnh, không khổ; cha mẹ trong bảy kiếp của mình được thoát khỏi cảnh khổ, được sanh thiên giới.

 -  Người Phật tử phải thực hiện lòng hiếu thảo của mình, phải thành tâm, thường xuyên tưởng nhớ đến công ơn cha mẹ hiện tại và cha mẹ trong các tiền kiếp, đồng thời thực hiện lễ cúng dường tăng chúng vào ngày tự tứ, rằm tháng bảy hàng năm để chú nguyện cho cha mẹ mình.

 Ý NGHĨA VÀ THỰC HÀNH

  Chúng ta có thể nhận thấy trong nội dung kinh Vu Lan có những vấn đề như sau:

 1/ Nếu chúng ta cúng dường đầy đủ phẩm vật cho tăng chúng, để họ chú nguyện cho cha mẹ chúng ta.  Nếu người còn sống sẽ được hưởng phước lạc, tăng tuổi thọ, nếu như cha mẹ đã quá cố đang thọ khổ nơi khổ cảnh như địa ngục, ngạ quỹ sẽ được giải thoát khỏi nơi ấy, và cha mẹ trong các tiền kiếp của chúng ta sẽ được tái sanh vào các thuận cảnh nơi các cõi trời [cha mẹ trong 7 đời còn có nghĩa là những cha mẹ của ta trong quá khứ xa xôi, tức chúng sinh khác, vì do nghiệp duyên ai cũng có thể đã là cha mẹ của ta].

  Kết quả trên dường như nằm ngoài sự chi phối của luật nhân quả.

  2/  Hiện nay, dù số lượng các ngôi chùa và tăng chúng rất phát triền, phương tiện đi lại truyền thông rất hiện đại, nhưng nhu cầu báo hiếu của chúng ta vào dịp ngày rằm tháng bảy là là rất lớn, bên cạnh đó việc cúng dường tăng chúng báo hiếu cha mẹ chỉ diển ra vào ngày tự tứ và phải dùng sức chú nguyện của chư tăng mười phương (nhiều vị tăng).

 Thế nên việc tổ chức lễ Vu Lan cho từng gia đình, hay nhiều gia đình cùng lúc (mỗi gia đình với nhiều lễ vật) tại một ngôi chùa trong dịp này sẻ ít nhiều bị hạn chế.

3/  Tăng chúng thực hiện lễ Vu Lan là những Hiền thánh tăng đầy đủ đạo hạnh, giới đức, định lực, trí tuệ từ  cận sơ quả, sơ quả đến Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát tạo thành một pháp giới đạo đức trang nghiêm thanh tịnh, từ đó có năng lực nhiệm mầu chú nguyện cứu giúp người trong khổ cảnh.

 Hiện nay các vị Hiền thánh tăng chắc hẳn là không nhiều.

4/ Vật phẩm cúng dường rất đa dạng, nhiều chủng loại thuộc thượng vị, loại tốt, ngon nhất.

Thế nên đối với người nghèo, người không đủ điều kiện, rất khó khăn trong việc sắm sửa đủ các lễ vật để thực hiện việc báo hiếu theo lễ Vu Lan.

Có thể, khi chúng ta nghiên cứu nội dung kinh vu Lan, chúng ta sẽ có cùng những nhận xét như trên.

 Nhưng sau khi nghiên cứu bài kinh kỹ hơn, chúng tôi nhận thấy bên cạnh những ý nghĩa dể nhận thấy trên, nội dung kinh còn hàm chứa ý nghĩa cao diệu hơn, nhân bản và đại từ đại bi  hơn bao giờ hết.

Kinh Vu Lan tuy đề cập đến tha lực, nhưng thật ra bên trong hàm chứa ý nghĩa tự giác giác tha, tự lực giải thoát.

I/ Về phương diện từ bi cứu khổ:

1/  Các đạo sỹ ngoại đạo, các thiên thần, địa thần, quỹ thần, cùng Tứ thiên vương không có khả năng cứu mẹ ngài Mục Kiền Liên, chỉ có các vị hiền thánh tăng mới có khả năng ấy. Chúng ta có thể hiểu điều này như sau:

 Mỗi chúng sinh đều tạo  nghiệp và nhận quả báo tương ứng, không ai có thể thay đổi, định luật nhân quả chi phối, vận hành toàn bộ hoạt động thành trụ hoại diệt trong sáu cõi luân hồi, trừ phi chính người đó.

 Nói là do chính người đó là bởi khi người đó đươc chỉ dạy, được giải thích, được hướng dẩn để đánh thức, để khởi lên sự hiểu biết trong họ, thì họ hiểu ra vấn đề họ đang gặp phải, hiểu về luật nhân quả, hiểu ra rằng muốn có thiện quả, có kết quả tốt đẹp hôm nay thì phải có thiện nghiệp tức phải làm các điều thiện về thân, khẩu và ý trong quá khứ.

Còn nếu như  tự mình đã làm các điều ác, các điều bất thiện về thân khẩu, ý  thì nay tất yếu phải chịu quả báo xấu nơi các khổ cảnh. Đây là một quy luật tự nhiên không ai làm khác đi được, tự mình làm cho mình hạnh phúc, tự mình làm cho mình đau khổ.

Một khi khởi lên sự hiểu biết rỏ như thế, thì họ liền nhận ra sai lầm của mình, nhận thấy hiện trạng đau khổ của mình đến từ hậu quả việc làm của chính mình mà thanh thản thọ nghiệp, khi ấy với họ vấn đề  thọ nghiệp hay không thọ nghiệp không còn quan trọng nữa, nên việc đang thọ nghiệp không tồn tại, chỉ tồn tại đối với thân, không tồn tại đối với tâm, tâm được giải thoát khỏi ám ảnh, nên họ được an lạc, nên họ được giải thoát khỏi nghiệp đó.

 Nhưng làm sao để họ đươc chỉ dạy, được giải thích, được hướng dẩn, để họ được đánh thức, để trong họ  khởi lên sự hiểu biết như thật về luật nhân quả, về khổ, về vô thường.

Đó là nhờ nguyện lực của chư hiền thánh tăng dựa trên giới lực, dựa trên định lực và dựa trên tuệ lực của các vị ấy. Nhưng tại sao chư hiền thánh tăng làm được mà các đạo sỹ, thiên thần, quỹ thần cùng Tứ đại thiên vương không làm được?

Vì các hiền thánh tăng là đệ tử Thế Tôn, họ là các Sa môn thứ nhất, Sa môn thứ hai, Sa môn thứ ba, Sa môn thứ tư. Họ chơn chánh hiển thị sự liễu tri tất cả các thủ. Các ngọai  khác không có các Sa môn thứ nhất, Sa môn thứ hai, Sa môn thứ ba, Sa môn thứ tư.

Những Sa môn, Bà la môn của các ngoại đạo không chơn chánh hiển thị sự liễu tri tất cả các thủ, nên họ không có tịnh tín với Đạo sư, không có tịnh tín với Pháp hoàn toàn, không có giới luật hoàn toàn, không có tình thương hoàn toàn:

    “ . . . Chư Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn tuy tự xưng liễu tri tất cả thủ, nhưng không chơn  chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Họ hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự  liễu tri về kiến thủ, sự  liễu tri về giới cấm thủ, nhưng  không  hiển thị sự liễu tri về ngã luận thủ. Vì sao vậy? Những Hiền giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy không  như  thật tuệ tri một sự. Do vậy, những Hiền giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy tuy tự  xưng  liễu tri tất cả thủ, nhưng không chân chánh  hiển  thị sự liễu tri tất cả thủ. Họ  hiển thị sự  liễu  tri  về dục thủ, sự  liễu tri về  kiến  thủ, sự liễu tri về giới cấm thủ, nhưng không hiển thị sự liễu tri về ngã luận thủ. Chư Tỷ-kheo, trong pháp luật như vậy, nếu có tịnh tín đối với Đạo sư, tịnh tín ấy được xem là không hoàn toàn; nếu có tịnh tín đối với Pháp, tịnh tín ấy được xem là không hoàn toàn; nếu có thành tựu viên mản các Giới luật, sự thành tựu ấy được xem là không hoàn toàn; nếu có sự thương mến đối với những pháp hữu, sự thương mến ấy được xem là không hoàn toàn “

                                                                              ( Kinh Tiểu Sư Tử Hống )

Nguyện lực thanh tịnh của chư hiền thánh tăng, đệ tử Thế Tôn xuất phát từ giới luật, định lực, tuệ lực có được do sự tịnh tín hoàn toàn đối với Đạo sư, tịnh tín hoàn toàn với Pháp; do sự thành tựu hoàn toàn viên mản các giới luật; do từ lòng từ bi, hỷ xả, sự thương mến hoàn toàn và vô điều kiện với tha nhân.

 Nguyện lực ấy có năng lực cao diệu, có khả năng nhiệm mầu, đánh thức thiện tâm vốn có sẳn nơi mẹ của tôn giả Mục Kiền Liên, nhưng đã bị chôn vùi bởi vô số trầm tích tham sân si từ quá lâu trong quá khứ.  Để nay, tự  nơi nội tâm bà khởi lên sức mạnh tự mình ăn năn, tự mình sám hối, tự mình làm trong sạch thân khẩu ý, đưa đến sự yếm ly, ly tham, xả ly, từ bỏ (xả bỏ lòng tham lam, bỏn xẻn, ích kỹ, sợ người khác nhìn thấy đòi chia xẻ cơm với mình, nên dùng tay trái che lại ). Do xả ly, do từ bỏ, không còn chấp thủ nên nội tâm được an tịnh, trí huệ phát sinh, khi ấy trong bà liền khởi lên sự hiểu biết về luật nhân quả, về khổ, vô thường, bà hiểu ra vấn đề mình đang gặp phải để rồi chấp nhận sự thọ nghiệp với lòng thanh thản.

 Thế nên tuy mẹ ngài Mục Kiền Liên thân đang thọ nghiệp ngạ quỹ, nhưng tâm bà được an tỉnh, tự tại, không bị nghiệp chi phối, không bị nghiệp nhiếp phục, tức là bà được giải thoát khỏi nghiệp ngạ quỹ.

2/  Như ghi nhận ở phần trên, việc thực hiện báo hiếu theo lễ Vu Lan sẽ bị hạn chế nhiều do số lượng tăng chúng không thể đủ để thực hiện lễ báo hiếu vào ngày tự tứ cho nhiều người cùng lúc.

 Nhưng nếu ta chú tâm tìm hiểu kỹ câu kinh, thì vấn đề sẽ không như thế, mà ý kinh dẩn đến khả năng tuyệt diệu, mở ra cơ hội báo hiếu cho tất cả mọi người, tất cả mọi chúng sinh ở mọi nơi, mọi lúc. Mở ra một thế giới tốt đẹp, trong đó mọi người chúng ta đều là một hiếu tử, mỗi người chúng ta đều là hiền thánh tăng, và vô lượng chúng sinh được thoát khỏi nơi  khổ cảnh.

“  Đệ tử Như lai / thực hành từ hiếu / thì mỗi ý nghĩ / thường thường tưởng nhớ / cha mẹ hiện tại / cho đến cha mẹ / bảy đời quá khứ /.

                                                                               (Kinh Vu Lan)

Câu kinh chỉ rỏ, muốn thực hành từ hiếu, thì phải luôn tưởng nhớ đến cha mẹ trong mỗi ý nghĩ. Điều nầy có nghĩa là ta phải tưởng nhớ đến cha mẹ ta trong chánh niệm, trong tỉnh giác, mà muốn luôn có được chánh niệm, tỉnh giác thì tâm trí ta phải được định tỉnh, không còn tạp niệm, tà niệm, vọng tưởng, điên đảo tưởng, tham tưởng, sân tưởng, hại tưởng . . . muốn thế ta phải thực hiện hạnh yếm lý, xả ly, từ bỏ, ly tham, ly bất thiện pháp.

Yếm ly gì, xả bỏ, từ bỏ gì? Đó là yếm ly, từ bỏ, xả bỏ tham sân si, ngã chấp ngã dục; yếm ly, từ bỏ những gì thuộc hữu vi vốn bản chất là khổ, là vô thường, là vô ngã, bản chất chúng vốn là như thế không thể khác được.

 Khi chúng ta có giới, có chánh niệm, chúng ta sẽ có chánh tư duy, chánh định, chúng ta sẽ có định lực, sẽ có tuệ lực, sẽ có năng lực nhiệm mầu để cảm ứng đến những đối tượng ta mà  thương yêu, mà ta luôn mong muốn giúp đở, dù người đó đã quá vãng hay còn sống.

                                   “  . . . Cho đến cha mẹ/ bảy đời quá khứ “

                                                                                       (Kinh Vu Lan)

Là nói lên tình thương thật sự, vô điều kiện, tình thương bình đẳng không phân biệt người cha, người mẹ trong đời nầy tốt hay xấu hơn, thương ta nhiều hơn hay ít hơn người cha, người mẹ trong các đời khác; Là lòng thương yêu đối với tất cả mọi chúng sinh, ắt hẳn rằng trong quá khứ xa xôi đã có lần một chúng sinh nào đó đã là cha, đã là mẹ của ta.

 Dù khi ta đạt nhiều thành tựu, nhưng khi ta có lòng từ bi, thì định lực, tuệ lực càng lớn lao hơn nửa, nó có khả năng, có năng lực nhiều hơn nữa để đánh thức, làm khởi lên, làm tăng trưởng thiện tâm và khả năng tự giác ngộ của người mà ta muốn cứu giúp.

Trong Kinh Ước Nguyện, Đức Phật dạy chúng ta điều nầy rất rỏ:

     “ Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: Mong rằng những bà con huyết thống với ta, khi họ chết và mệnh chung, nghĩ đến ta với tâm hoan hỷ, và nhờ vậy họ được quả báo lớn, lợi ích lớn! Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mản giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh.”

                                                                     ( Kinh Ước Nguyện )

Kinh Ước Nguyện đã mở cho chúng ta khả năng báo hiếu vừa mầu nhiệm, vừa thực tế lại vừa vĩ đại cao quý chưa từng thấy. Đọc xong bài kinh nầy, ta quá hân hoan, quá mừng rở, rồi quá đổi xúc động, chúng ta bật khóc, chúng ta càng tôn kính Thế tôn hơn bao giờ hết, Người đã quá thương yêu chúng ta mà chỉ dạy con đường báo hiếu vô cùng quý báu nầy .

Bấy lâu nay, ta không biết làm thế nào để đền ơn, đáp nghĩa, để giúp đở cha mẹ quá cố của ta. Nhớ lại thuở còn non trẻ, ta chưa ý thức được thế nào là chữ hiếu, ta đã mải rong chơi, đã lơ là bổn phận người con, để rồi khi ta trưởng thành, ta nhận ra ý nghĩ cao quý của lòng hiếu thảo, ta có điều kiện vật chất nhiều hơn, thì cha mẹ ta không còn nữa. Những lúc được nghe lời hát từ bài Bông hồng cài áo ta không thể kềm được nước mắt, lúc nầy ta thương cha mẹ ta quá, ước gì giờ đây có cha mẹ bên cạnh, để ta nói rằng “ con thương cha mẹ lắm.“  Ta buồn tủi, ta hối hận, ta thấy xót xa trống vắng quá. Những ngày giổ, càng bày yến tiệc lớn chừng nào là lòng ta lại buồn tủi chừng ấy, cảm thấy vô vị và rống rổng..

Kinh Ước Nguyện đã mang đến cho chúng ta sự hân hoan, phấn khởi, hy vọng, tin tưởng quá lớn lao. Giờ đây, ta có thể giúp đở đền ơn báo hiếu cha mẹ ta một cách  thực tế và hết sức cụ thể.

Cha mẹ ơi! ngay bây giờ đây, ngay tại thời điểm nầy đây, con xin hứa với cha mẹ, con xin hứa với Đức Phật, Đấng Đại từ, Đại bi, Chánh đẳng giác, Bậc thầy của Trời và Người rằng, con nguyện luôn nổ lực, chuyên cần, kiên trì, kham nhẩn, tinh tấn sống đúng theo giới luật; giữ gìn thân, khẩu, ý thanh tịnh; thực hành thiền định; tinh cần giử chánh niệm, thực hiện hạnh xả ly, quán tưởng vô thường, khổ, vô ngã; nổ lực thực hiện việc chia xẻ, bố thí tài vật, tận tâm giúp đở mọi người; sống đời sống chân chánh, chính trực trong mọi lúc, mọi nơi.

Cha mẹ ơi! như thế là con sẽ được gần gủi cha mẹ, cha mẹ sẽ nghĩ đến con với niềm hân hoan, với sự phấn khởi, hạnh phúc, cha mẹ sẽ hảnh diện, vui mừng vì thấy con hôm nay không những trưởng thành trong đường đời, mà còn trưởng thành trong Chánh pháp.

Cha mẹ được hạnh thúc và an lạc, cha mẹ sẽ có trí tuệ, lòng mong muốn hướng về Phật pháp, quy y Tam Bảo đang ngủ yên trong cha mẹ được đánh thức và phát triển lớn mạnh.

 Với niềm tin mảnh liệt, con tin tưởng là như thế, vì đó là quy luật, đó là điều đã được Đức Phật, vị Cha nhân từ, tôn kính của chúng ta và muôn loài, chỉ dạy.

Như thế thì tất cả mọi người, ai cũng có thể tự mình trở thành Hiền thánh tăng để thực hiện lễ Vu Lan cho chính mình, tự giải thoát mình, tự chuyển hóa tâm hồn ngạ quỹ, địa ngục trở thành tâm hồn thanh tịnh an lạc. Từ đó, thực hiện lễ Vu Lan cho cha mẹ mình và cho những người khác.

 

Và như thế xã hội chúng ta sẽ có nhiều hơn nữa những người con có hiếu, nhiều hơn nữa những bà mẹ được siêu sinh tịnh độ, và nhiều hơn nữa những người hiền đức có ích cho đời

                                                 “ Thân mẫu của con

                                                    đã được siêu thoát

                                                    là nhờ năng lực

                                                    công đức Tam bảo “

                                                                                  (Kinh Vu lan)

 II/ Về phương diện tu tập:

    1/ Đức Phật nhân dịp ngài Mục Kiền Liên thưa hỏi, mà chỉ dạy các đệ tử về chữ Hiếu và cách thức thực hiện chữ Hiếu, đồng thời qua đó sách tấn, khuyến khích đệ tử nổ lực tu hành, thành tựu giới hạnh, gia tăng định lực, tăng trưởng trí tuệ và phát triển tâm từ bi hỷ xả, hướng đến mục đích tự giác giác tha.

    2/ “ Đức Thế Tôn dạy / Đại Mục Kiền Liên / Thân mẫu tôn giả / gốc rể tội chướng / kết đã quá sâu / không phải năng lực / một mình tôn giả / có thể giải cứu. . .”

                                                                                      (Kinh Vu Lan)

      Đoạn kinh nầy vô cùng quan trọng, chỉ rỏ khả năng cứu khổ có thực hiện được hay không, hiệu quả thế nào, không những tùy thuộc vào phẩm chất, nguyện lực của người chú nguyện cứu khổ, mà còn tùy thuộc vào phẩm chất căn tánh của ngưởi được cứu khổ.

 Sự hiểu biết, ý chí tự giải thoát của từng người tùy thuộc vào căn tánh của người đó, vốn được hình thành trong quá trình huân tập, tập nhiểm, tích lũy từ các hoạt động về thân, khẩu, ý trong quá khứ. Khi còn sống, chúng ta có căn tánh, phẩm chất như thế nào, thì tái sinh nơi các cõi khác cũng sẽ như vậy.

 Do đó giai đoạn  chúng ta sống ở thế gian rất quan trọng, trong cuộc sống thường nhật, bên cạnh việc tích lũy vật chất ( nếu thật sự cần thiết ) cho hạnh phúc đời thường, chúng ta cần phải ra sức tích lũy cho mình số vốn về tinh thần, số vốn đó đến từ việc năng làm điều thiện, xả bỏ điều ác, giữ tâm ý trong chánh niệm, thanh tịnh. Vì khi sang cõi dữ, chúng ta rất khó có điều kiện thực hiện các điều trên, bởi ở khổ cảnh, ta phải luôn đối phó, luôn chịu đưng sự đau khổ, thống khổ hành hạ, thì đâu còn thời gian, đâu còn tỉnh táo để phân biệt điều hơn lẽ phải.

 Thế nên, là người con có hiếu, khi phụng dưỡng cha mẹ mình lúc còn sống, cung phụng cho phụ mẫu, món ngon vật lạ, tiện nghi thoải mái, tiền bạc đày đủ là điều tốt, nhưng vẩn phải chú ý đến khuynh hướng tâm tính của họ, sự phụng dưỡng như thế có làm sinh khởi, làm phát triển lòng tham sân si không, có làm tăng trưởng ngã chấp, ngã dục của họ không, có ảnh hưởng đến việc giữ gìn Ngũ giới không, hay hơn nữa là Bát quan trai giới.

 Thương yêu cha mẹ thì phải làm sao cho cha mẹ được hưởng hạnh phúc, không những trong hiện tại mà còn trong tương lai lâu dài. Thứ hạnh phúc không còn hay còn rất ít, hoặc ít ra cũng bớt đi sự hiện diện của sầu bi khổ ưu não bên cạnh.

Thứ hạnh phúc nào, ta đang nổ lực hướng đến, thì ta  phái tìm cách làm sao để cha mẹ ta được như vậy.

    3/ Sự chuẩn bị đầy đủ phẩm vật với nhiều loại ngon quý, ý muốn nhấn mạnh đến sự quyết tâm muốn báo hiếu, lòng chân thành luôn mong muốn báo đáp ân đức cha mẹ, giúp đở mọi người  thoát khỏi cảnh khổ.

    4/ Việc báo hiếu cha mẹ chúng ta trong ngày lễ Vu Lan là việc làm vô cùng tốt đẹp tạo nhiều phước báo cho chính mình. Nhưng việc báo hiếu sẽ thật trọn vẹn và tốt đẹp hơn nữa nếu chúng ta thực hiện lễ Vu Lan đồng thời cho tất cả những ai đang trong vòng khổ nạn, người thân quen và cả những người không quen biết.

        Một khi tâm từ bi nảy nở lớn mạnh, là lúc tâm thức ta chuyển hóa sang mức độ cao đẹp hơn, khi ấy khả năng cảm ứng tương tác, trợ duyên cho người cần được giúp đở sẽ hiệu quả hơn, có kết quả tốt đẹp hơn.  

           “Ngày ấy các ngươi / hãy vì tất cả / cha mẹ bảy đời, / cha mẹ hiện tại, / những kẻ     đang ở / trong vòng khổ nạn”

                                                                                                     (Kinh Vu Lan)

    Kinh Vu Lan tuy thuộc Đại thừa, nhưng lại hàm chứa ý nghĩa thuộc nguyên thủy, trong đó ý nghĩa tự lực và tha lực hòa quyện nhau có tác dụng hổ tương, cùng là nhân quả của nhau.

Theo đó để thực hiện việc báo hiếu viên thành, viên mãn, có hiệu quả thiết thực, đúng với Chánh Pháp, kết quả có được liên quan đến các yếu tố hổ tương trong mối quan hệ nhân  quả sau:

     1/  Bản thân người muốn cứu khổ cho người khác phải tự lực, tự mình ra sức tu dưỡng, rèn luyện vươn lên tầm cao Thánh đạo, để có phẩm chất tốt đẹp của người Phật tử mà cao quý hơn hết là phẩm chất của vị hiền thánh tăng;

     2/  Phẩm chất tốt đẹp trên, có năng lực mầu nhiệm để cảm ứng, tạo duyên, gieo duyên đến người đang thọ khổ ( gieo nhân Pháp duyên);    

     3/ Người đang thọ khổ nhờ sự cảm ứng, trợ duyên, nhờ tác động của nhân Pháp duyên đó mà khả năng, năng lực tự vươn lên đang ngủ yên nay được đánh thức, trong họ khởi lên trí hiểu biết, tự giác ngộ đi đến thoát khổ.

     4/ Khả năng, năng lực tự vươn lên, tự giác ngô, tự thoát khổ của người thọ khổ ở cấp độ nào, ở mức độ nào, là tùy thuộc vào hai yếu tố:

- Phẩm chất đạo hạnh, trình độ tu tập của người thệ nguyện cứu khổ;

- Và phẩm chất căn tánh của người đang thọ khổ.

     5/ Thế nên, việc tu dưỡng của người thệ nguyện cứu khổ và cách sống thiện hay bất thiện của người được cứu khổ lúc còn tại thế có vai trò then chốt, quyết định hiệu quả của lễ Vu Lan.

     6/ Mỗi một chúng sinh, trong đó có chúng ta đều có khả năng trở thành Hiền thánh tăng để cùng nhau thực hiện lể Vu lan cho cha mẹ mình cho những người thân, những người quen và không quen biết.

 Quá trình Tự giác giác tha, tự lực giải thoát  là quá trình xuyên suốt không gián đoạn, hướng đến mục đích từ bi hỷ xả, cứu khổ cứu nạn, không những cho cha mẹ mình mà còn hướng đến thập loại chúng sinh được nói đến trong tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du,  và tất cả những ai tuy còn tại thế nhưng hiện đang đắm chìm trong bể khổ nơi thế gian này.

Hơn thế nữa, để ngày Đại lễ Vu Lan, ngày rằm tháng bảy được kết quả mỹ mản trong mọi gia đình, trong mỗi tâm hồn chúng ta; thì lễ Vu Lan nên được chúng ta thực hiện mỗi tháng, hay mỗi tuần, hay mỗi ngày, mỗi phút giây của cuộc sống. Được như vậy, tâm hồn chúng ta sẽ là cõi tịnh độ, gia đình chúng ta là cõi tịnh độ, xã hội chúng ta và thế giới chúng ta sẽ là cõi tịnh độ.

Bên cạnh đó, từ các hoạt động từ thiện xả hội có được thể hiện qua sự an ủi, chia xẻ, ủy lạo, đùm bọc, giúp đở người bất hạnh, người nghèo khó thiếu thốn, người khổ nạn cụ thể về mặt tinh thần và vật chất dù nhiều hay ít mỗi khi có cơ hội, là chúng ta đã góp phần xây dựng thế giới hạnh phúc, an lạc, thanh bình, mà  trong đó cha mẹ chúng ta và mọi người cùng cư ngụ.

KHAI KINH 

Đại từ đại bi

thương xót chúng sinh,

đại hỷ đại xả

cứu vớt hàm thức,

ánh sáng tướng tốt

dùng tự trang nghiêm,

đệ tử chí tâm

qui mạng đảnh lễ.

Kính lạy đức Phật bổn sư Thích ca mâu ni như lai, cùng Phật Pháp Tăng vô thượng tam bảo.

Kính lạy đức Phật bổn tôn A di đà như lai, cùng Quan thế âm bồ tát, Đại thế chí bồ tát, Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát.

Kính lạy tôn giả Đại mục kiền liên, cùng hết thảy liệt vị Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn.

Nam mô Đại bi hội thượng Phật Bồ tát (3 lần).

Bài chú Tinh túy của đại từ bi:

Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắt ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra da, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra da, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da, Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án tát điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da, sa bà ha.

Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni như lai. Nam mô Thập phương đại uy đức tăng bảo. Nam mô Vu lan duyên khởi Đại mục kiền liên tôn giả.

TỤNG KINH 

Tôi nghe như vầy:

Một thời Thế tôn

ở nước Xá vệ,

trong khu vườn rừng

Chiến thắng Thiện thí.

Khi ấy tôn giả

Đại mục kiền liên

mới thành tựu được

sáu thứ thần thông

muốn cứu cha mẹ,

đền đáp ân đức

sinh thành dưỡng dục,

nên dùng thiên nhãn

quan sát khắp cả

thế giới luân hồi,

nhìn thấy mẹ mình

sinh trong ngạ quỉ,

không có đồ ăn,

không được thức uống,

da liền với xương.

Tôn giả thống thiết,

lấy bát đựng cơm

đem hiến cho mẹ.

Bà mẹ nhận được,

tức thì tay trái

che lấy cái bát,

tay phải vốc cơm.

Nhưng mà cơm ấy

chưa vào đến miệng

đã thành than lửa,

nên không ăn được.

Tôn giả kêu lên,

khóc lóc bi thảm,

chạy về bạch rõ

với đức Thế tôn

cảnh tượng như vậy.

*

Đức Thế tôn dạy,

Đại mục kiền liên,

thân mẫu tôn giả

gốc rễ tội chướng

kết đã quá sâu,

không phải năng lực

một mình tôn giả

có thể giải cứu.

Dầu cho tôn giả

hiếu thảo khóc than

vang động trời đất,

nhưng mà những vị

thiên thần địa kỳ,

tà ma ngoại đạo,

các vị đạo sĩ

và bốn thiên vương,

cũng đều không thể

làm gì cho được.

Phải nhờ uy lực

của Thập phương tăng

mới được siêu thoát.

Hôm nay Như lai

chỉ dạy tôn giả

cách thức cứu vớt,

để cho hết thảy

những kẻ khổ nạn

cùng được siêu thoát.

*

Đại mục kiền liên,

Thập phương tăng chúng

lấy rằm tháng bảy

làm ngày tự tứ.

Ngày ấy các người

hãy vì tất cả

cha mẹ bảy đời,

cha mẹ hiện tại,

những kẻ đang ở

trong vòng khổ nạn,

mà sắm trai soạn

đủ hết mùi vị,

các thứ trái củ,

bồn chậu múc rưới,

hương dầu đèn nến,

giường có đồ nằm,

đem đồ ngon nhất

đặt vào trong bồn,

hiến cúng Thập phương

đại đức tăng chúng.

*

Chính trong ngày này,

các hiền thánh tăng

hoặc tu thiền định

ở trong rừng núi,

hoặc đã thành tựu

bốn thứ đạo quả,

hoặc thường kinh hành

dưới gốc đại thọ,

hoặc là Thanh văn

hay là Duyên giác

đủ sáu thần thông

giáo hóa tự tại,

hoặc chính những vị

Bồ tát đại sĩ

đã lên thập địa

mà lại phương tiện

hiện tướng tỷ kheo.

Tất cả qui tụ

ở trong Tăng chúng,

đồng đẳng nhất tâm

mà thọ tự tứ.

Vì có đầy đủ

giới pháp thanh tịnh,

cho nên đạo đức

của Tăng chúng ấy

sâu rộng mênh mông.

*

Ai được hiến cúng

Tăng chúng tự tứ

đã nói trên đây,

tất cả cha mẹ

cùng với bà con

trong đời hiện tại

mà đã quá vãng

thì thoát thống khổ

ở trong ba đường --

thoát được tức thì,

cơm áo tự nhiên;

cha mẹ bà con

trong đời hiện tại

mà đang sống còn

thì hưởng phước lạc,

sống lâu trăm tuổi.

Đến như cha mẹ

bảy đời quá khứ

thì sinh chư thiên,

tự tại hóa sinh

ở trong thiên giới

hoa lệ chói sáng.

*

Bấy giờ Thế tôn

qui định điều này:

Thập phương tăng chúng

trước hết chú nguyện

cho người trai chủ,

chú nguyện cho đến

cha mẹ bảy đời.

Định ý chú nguyện

rồi mới thọ thực.

Trước đó hãy đặt

mọi thứ trai soạn

trước án thờ Phật

tại chỗ trai tăng

hay trong chùa tháp,

Tăng chúng chú nguyện

rồi mới tự thọ.

*

Khi ấy tôn giả

Đại mục kiền liên

liệt vị đại sĩ

đều rất hoan hỷ.

Tiếng khóc bi thảm

của ngài Mục liên

tức thì tan biến.

Thân mẫu của ngài

ngay trong ngày ấy

thoát được thống khổ

một kiếp ngạ quỉ.

*

Tôn giả Mục liên

liền đó lại thưa,

bạch đức Thế tôn,

thân mẫu của con

đã được siêu thoát

là nhờ năng lực

công đức Tam bảo,

trong đó gồm có

uy lực Tăng chúng.

Trong thì vị lai,

hết thảy Phật tử

có thể hay là

không thể phụng hành

thắng pháp Vu lan,

cứu độ cha mẹ

trong đời hiện tại

cho đến bảy đời

bằng cách làm theo

lời đức Thế tôn

đã dạy như trên?

*

Đức Thế tôn dạy,

Đại mục kiền liên,

lời tôn giả hỏi

rất đúng và hay.

Như lai muốn nói,

tôn giả lại hỏi.

Đại mục kiền liên,

các vị tỷ kheo

hay tỷ kheo ni,

quốc vương vương tử,

đại thần tể tướng,

tam công bách quan

cùng toàn dân chúng,

ai muốn thực hành

cái đức từ hiếu,

thì trước nên vì

cha mẹ hiện tại,

kế đó nên vì

cha mẹ bảy đời

trong thì quá khứ,

đến rằm tháng bảy --

ngày Phật hoan hỷ,

ngày Tăng tự tứ --

đặt để trai soạn

đủ các mùi vị

vào bồn Vu lan,

hiến cúng mười phương

Tăng chúng tự tứ,

cầu nguyện cha mẹ

đang còn hiện tại

sống lâu trăm tuổi,

không bịnh không khổ;

cha mẹ bảy đời

trong thì quá khứ

thoát khổ ngạ quỉ,

sinh trong nhân loại

hay trên chư thiên,

phước lạc vô cùng.

Đệ tử Như lai

thực hành từ hiếu,

thì mỗi ý nghĩ

thường thường tưởng nhớ

cha mẹ hiện tại,

cho đến cha mẹ

bảy đời quá khứ.

Hằng năm cứ đến

ngày rằm tháng bảy,

đem lòng từ hiếu

ưởng nhớ song thân,

sắm bồn Vu lan

hiến cúng Phật đà,

hiến cúng Tăng chúng,

báo đáp ân đức

từ ái nuôi dưỡng

của cha của mẹ.

Những ai đã là

đệ tử Như lai,

thì phải tuân giữ

cách thức trên đây.

*

Khi ấy tôn giả

Đại mục kiền liên,

cùng với bốn chúng

đệ tử Thế tôn,

nghe lời ngài dạy

ai cũng hoan hỷ

và nguyện phụng hành.

 

HOÀN KINH 

Bài kinh Tinh túy của đại bát nhã

Quan tự tại đại bồ tát đã đi vào Bát nhã ba la mật đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều không, vượt mọi khổ ách. Ngài nói, tôn giả Thu tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng đều như vậy. Tôn giả Thu tử, Không ấy của các pháp không sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt. Thế nên trong Không không sắc thọ tưởng hành thức, không nhãn nhĩ tyՠthiệt thân ý, không sắc thanh hương vị xúc pháp, không nhãn giới cho đến không ý thức giới, không vô minh và sự diệt tận của vô minh, cho đến không lão tử và sự diệt tận của lão tử, không khổ tập diệt đạo, không quán trí, không thủ đắc, vì không thủ đắc gì cả. Bồ tát vì y theo Bát nhã ba la mật đa nên tâm không vướng mắc, vì không vướng mắc nên không khiếp sợ, siêu thoát mộng tưởng thác loạn, cứu cánh niết bàn. Phật đà cả ba thì gian vì y theo Bát nhã ba la mật đa nên được vô thượng bồ đề. Do đó mà biết Bát nhã ba la mật đa là bài chú rất thần diệu: bài chú rất sáng chói, bài chú tối thượng, bài chú tuyệt bậc mà đồng bậc, trừ được hết thảy khổ não, chắc thật, không hư ngụy. Nên tôi nói chú Bát nhã ba la mật đa. Ngài liền nói chú ấy: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha.

Biển ái nước mênh mông,

sông mê sóng dồn dập,

muốn báo ơn cha mẹ,

phải niệm Phật Di đà.

Nam mô A di đà phật (30 đến 108 tiếng). Nam mô Quan thế âm bồ tát (3 đến 7 tiếng). Nam mô Đại thế chí bồ tát (3 đến 7 tiếng). Nam mô Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát (3 đến 7 tiếng).

Thần chú Vãng sinh Cực lạc :

Nam mô a di đa bà dạ, đá tha dà đá dạ, đá địa dạ tha, a di lị đô bà tì, a di lị đá tất đam bà tì, a di lị đá tì ca lan đế, a di lị đá tì ca lan đá, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, sa bà ha (21 lần).

Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy đức Phật bổn sư Thích ca mâu ni như lai, cùng Phật Pháp Tăng vô thượng tam bảo.

Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy đức Phật bổn tôn A di đà như lai, cùng Quan thế âm bồ tát, Đại thế chí bồ tát, Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát.

Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy tôn giả Đại mục kiền liên, cùng hết thảy liệt vị Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn.

Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy thắng pháp Vu lan, cùng hết thảy Phật pháp giải thoát chúng sinh.

Đệ tử chúng con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính lạy mười phương Đại uy đức tự tứ tăng chúng.

Đệ tử chúng con

hết lòng chân thành

tụng kinh Vu lan,

cúng Tăng tự tứ,

trì pháp Bát nhã,

niệm hiệu Di đà,

hồi hướng công đức

thù thắng như vậy,

nguyện cầu cha mẹ

cùng với bà con

trong đời hiện tại,

bao kiếp quá khứ,

được nhờ thần lực

bất khả tư nghị

của đức bổn tôn

A di đà phật,

của Phật Pháp Tăng

tam bảo vô thượng,

đại phóng uy quang

bí mật da trì.

Làm cho cha mẹ

bà con chúng con,

cùng với pháp giới

hết thảy chúng sinh,

bao nhiêu vọng nghiệp

nơi thân miệng ý

hết còn sức lực

gây nhân quả khổ,

ở trong đời ác

gặp ma hóa Phật,

sống trong lục đạo

Cực lạc hiện tiền.

Lại nguyện cùng nhau

đời đời kiếp kiếp

kết thành từ bi

bồ đề quyến thuộc.

Tự qui y Phật, xin nguyện chúng sinh thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sinh thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.

Một, Tài Liệu và Ký Hiệu 

1. Hầu hết tài liệu sử dụng đều nằm trong Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu và Tục tạng kinh bản chữ Vạn. Ký hiệu 2 tạng ấy là Chính và Vạn. Muốn biết tên riêng của tài liệu, tra là thấy liền.

2. Tài liệu chính là chính văn trong Chính 16/779 và bản dịch khác nằm ngay sau chính văn ấy. Tôi lại đọc 8 bản chú thích xưa: 1 trong Chính 39/505, 1 trong Chính 85/540, 5 trong Vạn 35/100 và 1 trong Vạn 44/369.

3. Đa số trích dẫn là của các bộ A hàm. Các tài liệu khác là Cao tăng truyện (Chính 50/326-327) và Phật học nghiên cứu của Lương Khải Siêu (các bài số 5, số 6, số 3 với chú thích ở trang 7, số 14). Từ hải và Phật học đại từ điển cũng dùng không ít.

Hai, Dịch Chủ Kinh Vu Lan 

Dịch chủ kinh này là ngài Pháp hộ, người được tôn xưng là Đôn hoàng bồ tát. Phạn tự thì tên ngài dịch âm là Đàm ma la sát. Người gốc Nhục chi, xưa là vùng giữa Đôn hoàng và Kỳ liên, nay là miền tây trung bộ tỉnh Cam túc và miền đông tỉnh Thanh hải. Nhục chi tuy chỉ là một quốc gia thuộc Tây vức xưa, nhưng có một thời đã là một đế quốc lớn, và rất liên quan đến Phật giáo cùng văn hóa của Ấn độ và Trung hoa. Ca nị sắc ca vương chính là người xứ ấy. Dịch chủ Pháp hộ không những đồng hương với nhà vua này, mà niên đại chỉ sau ông hơn 2 thế kỷ -- Lương Khải Siêu luận chứng niên đại của ông là bách kỷ thứ 6 sau Phật niết bàn, không phải thế kỷ thứ 4. Đồng hương với ngài Pháp hộ mà có tiếng trong giới phiên dịch của Phật giáo Trung hoa là các ngài Chi lâu ca sấm và Chi khiêm.

Tiểu truyện của ngài Pháp hộ chép ngài gốc Nhục chi, họ Nhục (hoàng tộc Nhục chi), nhưng tiên nhân qua cư ngụ Đôn hoàng. Xuất gia lúc lên 8, thờ ngài Cao tòa làm thầy. Rất thông minh, ký ức cực mạnh. Bẩm tính thuần hậu, tiết tháo, chuyên tinh, chịu khổ, quyết chí, háo học, muôn dặm tìm thầy cũng không từ. Tuy nhiên, thế sự khen chê không chen được vào lòng ngài. Bấy giờ là thời đại Vũ đế nhà Tấn. Tự viện tượng tranh tuy đã có khắp cả kinh thành và thôn ấp, nhưng kinh điển đại thừa vẫn nằm bên kia Thông lĩnh. Ngài phát phẫn, quyết chí hoằng dương đại pháp, nên theo thầy vào Tây vức, đi khắp các nước, 36 ngữ văn khác nhau ngài biết được cả. Ngài mang về Trung hoa rất nhiều kinh điển Phạn tự. Từ Đôn hoàng, ngài vào Tràng an. Trên đường đi, ngài đã bắt đầu phiên dịch ra Hoa văn. Trong tổng số phiên dịch của ngài, có Chánh pháp hoa và Quang tán bát nhã. Cần cù với công việc, chỉ lấy sự hoằng pháp làm chí nghiệp, nên ngài phiên dịch suốt đời, mệt nhọc mấy cũng không từ.

Kinh điển lưu hành rộng rãi tại Trung hoa, đầu tiên, là nhờ ngài.

Cuối đời Vũ đế nhà Tấn, ngài ẩn cư trong núi. Về sau ngài dựng chùa ngoài Thanh môn của Trường an, tinh tiến hành đạo, đức hóa vang xa, tăng tín vài ngàn thờ ngài tu học. Đến đời Huệ đế nhà Tấn bôn tẩu về hướng tây, ngài cùng môn đồ tị nạn về hướng đông, đến Thằng trì thì bịnh mà mất, thọ 78 tuổi.

Sự phiên dịch của ngài Pháp hộ được ngài Đạo an phê phán như sau, "kinh sách xuất từ tay ngài Pháp hộ thì cương lĩnh chắc chắn chính xác". Số lượng dịch phẩm của ngài, tiểu truyện nói có 165 bộ (Chính 50/327). Từ hải nói có 210 bộ. Nay tôi căn cứ mục lục Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu, thống kê số lượng dịch phẩm của ngài Pháp hộ như sau: loại A hàm có 11 thứ 11 cuốn, loại Bản duyên có 7 thứ 18 cuốn, loại Bát nhã có 1 thứ 10 cuốn, loại Pháp hoa có 3 thứ 14 cuốn, loại Hoa nghiêm có 5 thứ 19 cuốn, loại Bảo tích có 16 thứ 27 cuốn, loại Niết bàn có 4 thứ 7 cuốn, loại Đại tập có 4 thứ 21 cuốn, loại Mật giáo có 1 thứ 1 cuốn, loại Kinh tập (linh tinh, trong đó có Thiền) có 43 thứ 79 cuốn, tổng cộng 95 thứ (hay bộ) 207 cuốn. Số lượng này chắc chắn thiếu, vì không những sách xưa hay thất lạc, mà xưa nay không có Đại tạng kinh hay bản Mục lục nào thu thập hoặc liệt kê đủ hết những sách hiện còn, chưa nói những thứ đã mất. Nhìn vào số lượng kê ra ở trên, thấy ngài Pháp hộ dịch toàn kinh. Tuy nhiên, số lượng ấy cũng làm cho Lương Khải Siêu ghi vào Phật giáo đại sự biểu (dĩ nhiên của Trung hoa, phụ lục bài số 1 của sách Phật học nghiên cứu) 2 việc: năm 269 kinh Niết bàn của đại thừa bắt đầu xuất hiện do ngài dịch, năm 288 kinh Pháp hoa và kinh Bát nhã bắt đầu xuất hiện do ngài dịch.

Về niên đại của ngài Pháp hộ, theo tiểu truyện, ngài viên tịch quãng 304, năm Huệ đế nhà Tấn bôn tẩu về tây, thọ 78 tuổi. Như vậy niên đại của ngài ước định là 226-304, bách kỷ thứ 9 sau Phật niết bàn, cùng thời với Thế thân bồ tát, sau Long thọ bồ tát 2 bách kỷ và Ca ni sắc ca vương hơn 2 bách kỷ, trước các ngài Đạo an gần 1 bách kỷ, ngài La thập và ngài Pháp hiển 1 bách kỷ, ngài Huyền tráng 3 bách kỷ rưỡi. Lương Khải Siêu nói ngài bắt đầu phiên dịch từ năm 266. Điều này rất đúng với tiểu truyện nói trên đường vào Trường an ngài đã bắt đầu phiên dịch. Đại sự niên biểu của Từ hải (trang 15) ghi ngài đến Trung hoa năm 286, chỉ là ghi năm vào ở Trường an.

Lịch sử phiên dịch của Phật giáo Trung hoa rõ ràng có 3 cái mốc là Pháp hộ, La thập và Huyền tráng. Nhưng ngài Pháp hộ thuộc thời kỳ phôi thai, lại không có sự hỗ trợ của thế quyền. Cộng tác với ngài chỉ có cha con cư sĩ Nhiếp Thừa Viễn và 4 nhân vật có tiếng. Nhưng truyện tích không có một tỳ vết nào về tăng cách và nhân cách. Do đó mà bất cứ ai đọc và học kinh sách Hoa văn đều ngưỡng mộ ngài không ít. Chỉ nói, tuy đã gần hết 17 bách kỷ, mà Vu lan bồn, một bản kinh rất ngắn nhưng hằng năm, cứ đến mùa Vu lan báo hiếu, lời dịch của ngài non 1700 năm về trước, vẫn được duy nhất tụng lên, và hình ảnh của ngài lại càng hiện rõ trong niềm ngưỡng mộ của học giả Phật học, cũng đủ biết.

Ba, Lược Giải Đề Kinh 

Vu lan hay Vu lan bồn là dịch âm Phạn tự. Còn có một dịch âm nữa là Ô lam bà na. Trí húc đại sư nói, Vu lan bồn dịch nghĩa là cứu đảo huyền: giải cứu cái khổ như sự bị treo ngược (Vạn 35/151B). Như vậy, Vu lan có nghĩa là bản kinh chỉ cách giải cứu cái khổ khốn cấp trong các đường dữ.

Đó là nghĩa chính, và Vu lan bồn toàn là dịch âm Phạn tự. Tuy nhiên, nhờ trùng âm, ngẫu nhiên chữ Bồn lại có cái nghĩa của chữ Trung hoa, và quan trọng là chữ ấy kinh văn dùng để nói đến dụng cụ đặt đồ hiến cúng, trong cách cứu khổ đảo huyền. Như vậy Vu lan bồn ngẫu nhiên mà có cái nghĩa bồn Vu lan. Nhưng nghĩa này chỉ phụ thuộc, dầu theo kinh văn nghĩa này khá quan trọng.

Bốn, Khái Lược Nội Dung 

Nội dung kinh Vu lan có 2 phần. Phần trước là nguyên nhân và cách thức của thắng pháp Vu lan. Phần sau mang một huấn thị của Phật mà Tôn mật đại sư nói có tính chất Luật (Vạn 35/109A và Chính 39/506). Nói giản dị, phần đầu Phật chỉ dạy cách báo hiếu cha mẹ, phần sau Phật qui định Phật tử thì phải phụng hành cách ấy.

Năm, Lược Giải Kinh Văn

Như mới nói, kinh này có 2 phần lớn. Đây là phần trước nói nguyên nhân và cách thức của thắng pháp Vu lan, gồm nhiều đoạn nhỏ.

Tôi nghe như vầy:

Câu này là lời tôn giả A nan tự xưng để thuật lại kinh này. Lúc sắp nhập diệt, Phật đã dạy tôn giả để lời ấy ở đầu các kinh trong lúc kiết tập.

Như vầy là người nói, người nghe, lời nói, cử động, sự việc, không gian và thời gian, tất cả những gì được thuật lại ở dưới. Tất cả những gì ấy biểu thị pháp của Phật dạy trong một cuốn kinh, chứ không phải chỉ lời nói mới có khả năng ấy. Ấy là chưa kể lời nói có khi không quan trọng bằng hay hơn những điều khác. Thí dụ về người, kinh này nói Phật tử thì phải báo hiếu, nói báo hiếu thì đề cao trai tăng trong ngày tự tứ, nói tăng tự tứ thì đề cao tỷ kheo tăng tự tứ, nói tỷ kheo tăng tự tứ thì đề cao hạnh đầu đà, đề cao La hán và Duyên giác có lục thông giáo hóa, lại kể cả Bồ tát đại sĩ hiện làm tỷ kheo. Rồi thuật lại rằng nghe Phật dạy pháp Vu lan thì Bồ tát đại sĩ đều rất hoan hỷ. Chỉ nói về người như vậy cũng đủ thấy không kinh nào đại thừa hơn kinh này, nhất là không kinh đại thừa nào thuần nhất với Phật giáo nguyên thỉ bằng kinh này.

Một thời Thế Tôn ở nước Xá vệ, trong khu vườn rừng Chiến thắng Thiện thí.

Mấy câu này nói về người nói và chỗ nói kinh Vu lan. Người nói là đức bổn sư Thích ca thế tôn. Chỗ nói là khu vườn rừng Chiến thắng Thiện thí ở nước Xá vệ.

Thế tôn là nói về người nói. Tôi dùng chữ Thế tôn thay chữ Phật là vì Khuy cơ đại sư nói, khi giải thích chữ Phật này, rằng xét bản chữ Phạn của các kinh đều gọi đức Bổn sư là Thế tôn. Chính đức Bổn sư dạy để chữ ấy, vì chữ ấy hàm đủ các đức tính. Nhưng dịch chủ ý muốn vắn tắt nên dùng chữ Phật (Vạn 33/71B).

Chiến thắng Thiện thí là nói về chỗ nói, Xá vệ là một nước mà nay là Rapatmapet, nam ngạn sông Rahti, thuộc tây bắc bộ Ấn độ. Đời Phật, Xá vệ là quốc gia của Ba tư nặc vương, phụ hoàng của vương tử Chiến thắng. Tại Xá vệ có khu vườn rừng Chiến thắng Thiện thí, khu vườn rừng mà cây rừng là của vương tử Chiến thắng, đất vườn là của trưởng giả Thiện thí. Truyện kể rằng trưởng giả Thiện thí qui y Phật rồi, tìm chỗ kiến thiết tinh xá, thấy không đâu bằng khu vườn rừng của vương tử Chiến thắng, cây và suối đủ cả. Hỏi mua, vương tử thách chơi rằng lát vàng khắp đất và dày 5 tấc mới bán. Không ngờ trưởng giả làm y lời. Vương tử cảm kích, giao đất vườn phần trưởng giả, còn cây rừng phần mình, chung nhau hiến Phật. Phật dạy tôn giả A nan hãy để tên 2 người đứng chung khi nói về khu vườn rừng ấy.

Một thời Thế Tôn là Phật ở đâu cũng chỉ một thì gian ngắn, vừa đủ. Chỉ đọc 4 bộ A hàm không thôi, cũng thấy Phật du hóa luôn luôn và khắp nơi, không bao giờ ở yên một chỗ. Ngay sau mỗi lần an cư, gần ngày giải chế, ngài lại sửa y để lên đường. Phật cũng rất ít ngủ. Mỏi lưng nằm xuống là nghiêng hông bên phải, 2 chân chồng lên với nhau và tưởng đến ánh sáng. Có đêm ngài còn kinh hành dưới trời mưa lâm râm (Chính 2/362).

Nên nói thêm nữa về Phật. Phật là ngôi vị phải do 3 vô số kiếp tu tập phước trí; thân tối hậu phải đủ 32 tướng và thành Phật bằng quá trình gọi là bát tướng thành đạo; có đủ 10 đức tính biểu thị bằng 10 huy hiệu; sau hết Phật là gốc của Pháp và thầy của Tăng, kết thành tam bảo; và xuất thế để làm 5 việc: chuyển pháp luân, độ cha mẹ, đem đức tin lại cho những kẻ không có đức tin, ai chưa có chí nguyện bồ tát thì làm cho họ có, và thọ ký làm Phật cho bồ tát (Chính 2/612, 699 và 703). Do đó, muốn hiểu Phật, phải có đức tin và sự thấy biết phù hợp với cái trí không thể phá hoại (Chính 1/732). Một vài sự việc nhỏ nhặt sau đây, cũng toàn là trích trong các bộ A hàm, tạm đủ cho ta hiểu Phật như thế nào bằng tầm mức con người chúng ta. Giác ngộ rồi, Phật tuyên bố liền, rằng nếu có ai nói một cách đúng đắn để nói cái điều sáng suốt này: tất cả chúng sinh sinh ra ở đời thực chất đều siêu việt, không bị đau khổ hay khoái lạc khuất lấp, thì người ấy chính là ta đây - Bởi vì chính ta nói đến cái điều sáng suốt này: tất cả chúng sinh sinh ra ở đời thực chất đều siêu việt, không bị đau khổ hay khoái lạc khuất lấp (Chính 1/680). Lại xác định căn bản của hết thảy thiện pháp là chính 6 giác quan (Chính 2/225). Lời này, và lời trên, hay và rõ hơn câu hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh. Cũng lúc giác ngộ rồi, ngài nhìn bồ đề đại thọ đến 7 ngày không chớp mắt (Chính 2/816). Xác nhận đưa đệ tử vào pháp tuyệt đối, không phiền, không nhiệt và vĩnh cửu (Chính 1/769), minh định đối với một thực vật đang cháy mà còn không muốn nó hủy diệt, huống chi muốn hủy diệt một động vật (Chính 2/352), nên cây mà hiểu được ý Phật nói thì ngài cũng phán quyết cho biết được giải thoát như thế nào (Chính 2/240). Dạy đệ tử rằng các người ở trong Phật pháp mà vẫn vô phước là vì không săn sóc bịnh nhân. Ngài tự tay rửa trừ đồ bẩn và sửa soạn chỗ nằm cho bịnh nhân, ngăn sự làm thay của chư thiên mà bảo, khi xưa làm bồ tát, ta vì một con chim nhỏ mà không tiếc tính mạng, huống chi nay làm Phật mà ta lại bỏ một vị tỷ kheo bịnh hay sao. Rồi ngài tự tay quét phòng, giặt y, đỡ bịnh nhân dậy mà tắm rửa cho, xong, đưa lại giường, tự tay trao cho đồ ăn. Ăn xong, chính Phật rửa bát, và khuyên hãy cố mà trừ khử nguyên nhân của bịnh tật bây giờ và đời sau. Vị tỷ kheo bịnh nghe dạy chăm chăm nhìn ngài, tức thì đốn ngộ (Chính 2/766-767). Kêu gọi đệ tử hãy thương mà đừng oán ta, vì ta không thuyết pháp như thợ gốm làm đồ gốm, mà ta chỉ dẫn cho thấy những sự nghiêm trọng, cấp bách, chí khổ, và ai chân thành thì có thể vượt qua được (Chính 1/740). Con người của Phật thánh thiện đến nỗi ngoại đạo cố quan sát cả 4 tháng, thấy ăn mà khi đồ ăn chưa đưa đến sát miệng, miệng không hả ra trước (Chính 1/687). Do đó mà có kẻ chỉ ngước nhìn dung nhan của Phật cũng đốn ngộ và giải thoát (Chính 2752), và kẻ điên nhìn Phật cũng tỉnh (Chính 2/317). Còn đệ tử thì đến cư sĩ cũng tự tin rằng sẽ không còn sinh ra bởi dạ con, sống bằng khí huyết và tăng thêm mồ mả (Chính 2/152). Những chi tiết nhỏ nhặt mà trong vài mươi phút duyệt lại ghi chú cũ tôi cũng đã thấy được trên đây, cùng loại còn vô lượng sự việc nằm trong kinh điển, nhất là trong 4 bộ A hàm và Luật tạng, tập hợp lại thành đức Phật mà con người càng biết càng tôn kính.

Riêng sự hiếu hạnh của Phật, chính ngài đã nói với Ba tư nặc vương, ta cũng là thành phần loài người, cha là Chân tịnh, mẹ là Ma da (Chính 2/637). Nên ngay trong 5 công việc của Phật đã dẫn ở trên, đối với cha mẹ quan trọng đến nỗi có chỗ tách ra làm 2 mà dịch và kê như sau: chuyển pháp luân, thuyết pháp cho cha, thuyết pháp cho mẹ, hướng dẫn phàm phu lập hạnh bồ tát, và thọ ký làm Phật cho bồ tát (Chính 2/622). Năm công việc này do chính Phật tự kể ra để trả lời tôn giả Ưu tỳ ca diếp hỏi ngài, khi thấy ngài xoay người lại, ngồi hướng về Ca tỳ la vệ, hoài niệm thân phụ, họ hàng, quê hương, và sắp về vấn an, thuyết pháp. Khi về, ngài nghĩ, ân cha mẹ rất nặng, tình dưỡng dục rất dày, nên ngài đã đến gặp mà không để cho phụ hoàng nghênh đón. Lần về thăm này, Phật đã độ cho phụ hoàng, bà con cũng được độ không ít, trong số đó có 2 em con chú là A nan và A na luật xuất gia (Chính 2/622-623).

Đời Phật, việc thương tâm nhất là họ Thích bị tàn hại bởi Lưu ly vương. Tuy biết nghiệp cũ khó tránh, ban đầu ngài cũng cản, và cản được, bằng cách đón đường, ngồi dưới cây khô, và trả lời với ác vương về ngụ ý của ngài, rằng sự che chở của thân tộc vẫn hơn người ngoài (Chính 2/690). Phật hiếu hạnh đến nỗi lúc niết bàn, ngài vẫn đề cao phụ mẫu lực mà không sử dụng thần túc lực và trí tuệ lực (Chính 2/749). Đối với kế mẫu, bà Đại thắng sinh chủ, lúc bà từ trần, Phật đã từ chối sự làm thay của chư thiên, nói rằng cha mẹ sinh thành, làm cho con được lợi ích rất nhiều, ân nuôi dưỡng không thể không báo đáp, rồi đích thân khiêng 1 góc của linh sàng, 3 góc kia khiến 3 tôn giả A nan, Nan đà và La vân khiêng, đến tận chỗ hỏa táng, cũng chính Phật đích thân hỏa táng kế mẫu (Chính 1/822). Quan trọng hơn nữa là việc lên Đao lợi an cư và thuyết pháp cho mẹ. Việc này Tăng a hàm và Tạp a hàm (Chính 2/134 và 703) đều có ghi. Dịch chủ Pháp hộ cũng có 1 dịch phẩm đề rõ là Phật thăng Đao lợi vị mẫu thuyết pháp kinh (Chính 17/687-799). Còn kinh Địa tạng thì không những ngụ ý Phật báo hiếu cho mẹ bằng cách nói về hạnh nguyện của Địa tạng đại sĩ, mà còn đem chúng sinh tội khổ ký thác cho ngài, ngụ ý báo hiếu cha mẹ nhiều kiếp - báo hiếu chúng sinh. Nay, ở đây, bằng kinh Vu lan, Phật dạy cách báo hiếu cho muôn đời đệ tử của ngài. Nhưng, tất cả và hết thảy, không quan trọng bằng khi mới thành đạo, ngay dưới gốc bồ đề đại thọ, Phật đã kiết bồ tát giới, rằng hiếu là giới, vì lục đạo chúng sinh đều là cha mẹ. Chính điều này cho thấy, đối với Phật, hiếu hạnh là luật.

Khi ấy tôn giả Đại mục kiền liên mới thành tựu được 6 thứ thần thông, muốn cứu cha mẹ, đền đáp ân đức sinh thành dưỡng dục, nên dùng thiên nhãn quan sát khắp cả thế giới luân hồi, nhìn thấy mẹ mình sinh trong ngạ quỉ, không có đồ ăn, không được thức uống, da liền với xương. Tôn giả thống thiết, lấy bát đựng cơm đem hiến cho mẹ. Bà mẹ nhận được, tức thì tay trái che lấy cái bát, tay phải vốc cơm. Nhưng mà cơm ấy chưa vào đến miệng đã thành than lửa, nên không ăn được. Tôn giả kêu lên, khóc lóc bi thảm, chạy về bạch rõ với đức Thế tôn cảnh tượng như vậy.

Đoạn này là duyên khởi, mở đầu kinh và pháp Vu lan. Duyên khởi này đã chứng tỏ thần thông không địch nỗi nghiệp lực. Địch nổi nghiệp lực chỉ có uy lực của Tăng chúng.

Đại mục kiền liên là tên gọi theo họ mẹ. Gọi theo họ cha là Câu lợi ca hay Câu luật đà. Ngài với ngài Xá lợi phất là bạn chí thiết, và là 2 đệ tử thượng túc của đức Bổn sư (Chính 1/3). Đối riêng với ngài Xá lợi phất, thần thông của ngài đã có trường hợp không bằng, nhưng ngài vẫn là thần thông đệ nhất, song song với ngài Xá lợi phất là trí tuệ đệ nhất (Chính 2/639). Tôn giả Mục liên thường thưa với Phật, nếu nói đúng đắn rằng Phật tử là sinh ra từ miệng Phật, sinh ra từ pháp hóa, hưởng phần tài sản chánh pháp của Phật, thì Phật tử ấy chính là con đây; trong 1 ngày mà con được đức Thế tôn 3 lần đến tận chỗ con ở, đưa con vào chỗ ở của vĩ nhân (Chính 2/132). Ngài biết rành 64 thứ ngữ âm, nên đã lãnh sứ mạng vào tận vô gián ngục thăm Đề bà đạt đa (Chính 2/804). Có một sự liên hệ đặc biệt là đại chúng đã ủy ngài lên Đao lợi thỉnh Phật, sau khi Phật đến đó thuyết pháp cho mẹ mà không cho ai hay, để họ khát vọng, hết giải đải (Chính 2/705). Việc này do thần thông đệ nhất, nhưng ngẫu nhiên mà liên hệ đến hiếu hạnh của Phật và của ngài.

Sáu thứ thần thông là thần cảnh, thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng và lậu tận. Năm thứ đầu ai cũng có thể thực hiện, nhưng thứ 6 thì chỉ thánh giả đệ tử của Phật mới có. Nghĩa 6 thần thông ấy như sau: thứ nhất là biến hóa như ý, thứ hai là thị giác vô ngại, thứ ba là thính giác vô ngại, thứ tư là biết tâm lý người, thứ năm là biết đời kiếp trước, thứ sáu là sạch hết phiền não. Tuy nói 5 thứ đầu ai cũng có thể có, nhưng Phạn vương thấy cả ngàn thế giới mà không tự thấy phục sức của mình, vì lẽ không có "con mắt tuệ giác vô thượng" (Chính 2/581). Như vậy cũng đủ biết ngũ thông của kẻ khác chất và lượng đều khác xa chất và lượng ngũ thông của đệ tử Phật. Tuy nhiên, không phải đệ tử La hán của Phật ai cũng đủ lục thông, và lục thông la hán như ngài Mục liên thì thật hiếm có. Mà lục thông thì tự tại giáo hóa, nên lục thông la hán là đại thừa.

Đền đáp ân đức sinh thành dưỡng dục, theo chính văn thì chỉ là trả ơn bú mớm, tức là chỉ nói cái ơn nuôi dưỡng. Tôi dịch như trên là để cho đủ cả 2 cái ơn sinh và dưỡng. Phật pháp luôn luôn cảnh giác rằng thân người khó được mà dễ mất. Khó được mà được là một phần nhờ cái ơn sinh, dễ mất mà còn là một phần nhờ cái ơn dưỡng. Cái lý nói cha mẹ vì sinh lý mà có con chứ có ơn gì, chỉ nên để cho kẻ khác nói. Còn những kẻ làm con Phật thì phải biết "có 2 việc làm cho phàm phu được đại công đức, thành đại quả báo, được vị cam lộ, đến chỗ vô vi, ấy là phụng sự cha và phụng sự mẹ. Phụng sự cha mẹ được đại công đức thành đại quả báo cũng y như được đại công đức thành đại quả báo khi hiến cúng vị bồ tát chỉ còn một đời nữa là thành Phật. Vì vậy, các thầy tỷ kheo, hãy luôn luôn nhớ mà hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ". "Các thầy tỷ kheo, có 2 người mà các thầy hướng dẫn làm điều thiện đi nữa cũng vẫn chưa trả ơn được, đó là cha và mẹ. Các thầy phải phụng dưỡng cha mẹ, luôn luôn hiếu thuận cho đúng lúc, không lỡ mất cơ hội" (Chính 2/601). Lời này của Phật dạy trực tiếp cho người xuất gia. Người xuất gia không thể nại cớ chỉ lo phần hướng dẫn cha mẹ làm lành, hay nại chính cái cớ xuất gia, mà không phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ cần đến mình. Câu "hiếu thuận cho đúng lúc, không lỡ mất cơ hội" cho thấy khi cha mẹ còn, không lo phụng dưỡng theo nhu cầu, đến khi cha mẹ mất mới làm mọi cách siêu độ, thì đó là điều không đúng ý Phật chút nào. Như vậy, "nếu xuất gia mà khi cha mẹ cần đến mình, mình không thể đáp ứng, thì thà tại gia để suốt đời phụng dưỡng cha mẹ" (Chính 1/500). Bởi vì ngài Trí húc đã dẫn lời Phật dạy, "có 2 vị Phật đang sống trong nhà các người, đó là cha và mẹ" (Vạn 35/154A). Bởi vì kinh Bảo tạng đã dạy, hiếu sự cha mẹ thì vua trời Đế thích ở trong nhà các người, thực hành hiếu sự thì chúa trời Đại phan ở trong nhà các người, và hiếu sự tận lực thì đức đại giác Thích tôn ở trong nhà các người (Vạn 59/201A dẫn). Bởi vì ngay trong giới luật thanh văn đi nữa mà, ví dụ thấy cha mẹ bị bắt, không cố chuộc ra, thì phạm đệ thất tụ (Vạn 59/213A). Nên tôn giả Mục liên được thần thông là nghĩ ngay đến việc cứu độ cha mẹ, và việc ấy đã duyên khởi ra pháp Vu lan.

Thế giới luân hồi, chính văn là thế gian. Theo định nghĩa của Phật giáo, thế gian nghĩa là ở trong sự biến đổi, tức những gì thuộc về sự chi phối của thì gian. Nên thế gian là luân hồi, bao gồm cả 6 loài là chư thiên, nhân loại và tu la, địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh. Dùng chữ luân hồi thay chữ thế gian thì sát nghĩa và khỏi bị hiểu như thường hiểu về chữ ấy. Mẹ ngài Mục liên đọa trong loài thứ 2 của 3 loài thuần khổ hay khổ nhiều, của thế giới luân hồi. Sự hiến cơm cho mẹ của ngài Mục liên là làm theo huấn dụ của Phật, "khất thực đúng phép mà hiến cho cha mẹ thì phước rất lớn" (Chính 2/22). Nhưng mẹ ngài khi nhận được bát cơm hiến cho, tức thì tay che tay vốc, ấy là cái nghiệp tham lẫn hiện hành ra đó: đó là lý do không ăn được. Xưa kia, khi Phật còn làm một tội nhân đại địa ngục, mục kích ngục tốt hành hạ tội nhân khác nên phát bồ đề tâm, bằng cách xin ngục tốt nhẹ tay cho họ và để mình chịu thay. Nhờ một niệm phát bồ đề tâm như vậy mà bị ngục tốt nổi giận giết chết tức khắc, làm ngài thoát được cái tội trăm kiếp ở trong địa ngục, mở đầu cho sự thành Phật của ngài (Chính 3/136). Câu chuyện "sợi tơ Thiện", sách của tạp chí Niết bàn xưa, thuật một kẻ đọa địa ngục, nhờ nghĩ rằng hãy để mình chịu mọi cực hình thay cho bao nhiêu tội nhân khác, nên thấy một sợi tơ rất nhỏ như tơ nhện, từ trên cao thòng xuống. Kẻ ấy nắm lấy thì tự nhiên sợi tơ từ từ rút lên. Thấy vậy, tội nhân tranh nhau đến nắm. Sợi tơ vẫn rút lên, không đứt. Kẻ ấy cũng vui lòng và vẫn vui lòng. Nhưng khi tội nhân nắm nhiều quá thì kẻ ấy đâm hoảng, đổ lếu, la lên, rằng đừng nắm nữa kẻo đứt, tức thì sợi tơ đứt ngay. Nên mẹ ngài Mục liên, khi nhận được bát cơm mà biết rộng rãi, chia cho kẻ khác với, biết thương thân nên thương kẻ cùng cảnh ngộ, thì không những ăn được mà chắc chắn còn thoát được ngay cái kiếp ngạ quỉ. Đó là ý kiến của hầu hết các nhà chú giải kinh Vu lan. Tự lực của bà đã không được như vậy, nhưng may còn có uy lực của Tăng chúng.

Đức Thế tôn dạy, Đại mục kiền liên, thân mẫu tôn giả gốc rễ tội chướng kết đã quá sâu, không phải năng lực một mình tôn giả có thể giải cứu. Dầu cho tôn giả hiếu thảo khóc than vang động trời đất, nhưng mà những vị thiên thần địa kỳ, tà ma ngoại đạo, các vị đạo sĩ và bốn thiên vương cũng đều không thể làm gì cho được. Phải nhờ uy lực của Thập phương tăng mới được siêu thoát. Hôm nay Như lai chỉ dạy tôn giả cách thức cứu vớt, để cho hết thảy những kẻ khổ nạn cùng được siêu thoát.

Đoạn trước đã chứng tỏ thần thông cao như ngài Mục liên vẫn không làm gì được đối với nghiệp lực. Đoạn này nói thần thông cao như ngài Mục liên hay thần thông nhiều như cả trời đất quỉ thần và các đạo sĩ gồm lại cũng không làm gì được đối với nghiệp lực. Làm gì được đối với nghiệp lực là uy lực của Tăng chúng.

Bốn thiên vương là Trì quốc ở phương đông, Tăng trưởng ở phương nam, Quảng mục ở phương tây, Đa văn ở phương bắc. Đó là 4 vị thiên vương chuyên hộ vệ thế gian: hộ vệ dân chúng và hộ vệ đất nước.

Thập phương tăng hay Thập phương tăng chúng, Thập phương đại uy đức tăng chúng, chỉ là một mà nói tắt hay nói rõ. Tăng, hay Tăng già, dịch nghĩa là chúng: 4 vị xuất gia sắp lên, đã thọ tỷ kheo giới, sống với nhau theo nguyên tắc lục hòa, thì gọi là tăng hay chúng. Tăng chúng hay Chúng tăng là tiếng ghép cả Hoa Phạn. Thập phương tăng là những vị tỷ kheo ở tất cả mọi nơi. Khi những vị này hiện diện tại một chỗ, trong thì gian mau, lâu, hay vĩnh viễn, với số lượng 4 vị hay nhiều đến bao nhiêu, đều gọi là Thập phương tăng. Uy lực, hay uy đức, là cái thế của sức mạnh tinh thần uy nghiêm (uy lực), nói cách khác, là cái thế của sức mạnh công đức rất uy nghiêm và khó lường (uy đức). Công đức ấy của Tăng chúng là giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Chính uy lực hàm đủ chất lượng các công đức này mới có thể cứu khổ, mới diệt được nghiệp và nghiệp báo, nói tóm, uy lực này mới địch nổi nghiệp lực. Uy lực này là căn bản của thắng pháp Vu lan.

Phật hứa dạy cách cứu độ cha mẹ cho tôn giả Mục liên, mà nói để cho hết thảy những kẻ khổ nạn cùng được siêu thoát, thì không phải chỉ dạy một mình tôn giả Mục liên, không phải chỉ để cứu độ một mình mẹ ngài, cũng không phải chỉ để cứu độ một loài ngạ quỉ, mà là dạy cho hế thảy Phật tử cái cách cứu độ tất cả cha mẹ ở mọi nơi thống khổ. Cách ấy như dưới đây.

Đại mục kiền liên, Thập phương tăng chúng lấy rằm tháng bảy làm ngày tự tứ. Ngày ấy các người hãy vì tất cả cha mẹ bảy đời, cha mẹ hiện tại, những kẻ đang ở trong vòng khổ nạn, mà sắm trai soạn đủ hết mùi vị, các thứ trái củ, bồn chậu múc rưới, hương dầu đèn nến, giường có đồ nằm, đem đồ ngon nhất đặt vào trong bồn, hiến cúng Thập phương đại đức tăng chúng.

Cách cứu độ cha mẹ, hay là thắng pháp Vu lan, là trai tăng trong ngày Tăng tự tứ tức rằm tháng bảy. Chính yếu đoạn này là như vậy, nhưng đoạn này có nhiều điều cần giải thích.

Trước hết, các câu Thập phương tăng chúng lấy rằm tháng bảy làm ngày tự tứ. Ngày ấy các người ..., sát chính văn thì phải dịch: trong buổi lễ tự tứ ngày rằm tháng bảy của Thập phương tăng chúng, các người... Nói như vậy có nghĩa Vu lan trai tăng rằm tháng bảy là trai tăng đúng ngọ, sau lễ tự tứ, và lễ ấy phải cử hành trong ngày rằm tháng bảy, trước giờ ngọ. Dịch như đã dịch, chỉ để thuận ứng với những chữ ngày trong các đoạn văn sau mà thôi.

Thập phương tăng chúng hay Thập phương đại đức tăng chúng đã giải thích ở trên. Còn tự tứ là dịch nghĩa chữ Bát hòa la (Phạn: Pra-varana, Paly: Pavarana). Tăng chúng an cư đến ngày rằm tháng bảy thì giải chế. Trước khi giải chế, việc quan trọng nhất là cử hành tự tứ. Sau khi tự tứ, vị tỷ kheo được thêm một tuổi tỷ kheo giới, nên tự tứ cũng gọi là thọ tuế - là nhận tuổi mới mà thường gọi là hạ lạp. Tự tứ là sau 3 tháng tức 90 ngày an cư, các vị tỷ kheo ai cũng hoan hỷ mà đưa mình ra cho những vị tỷ kheo cùng an cư tùy ý chỉ những lỗi lầm mà họ thấy, nghe hay nghi. Sau khi chỉ, người được chỉ nếu thấy chỉ sai thì phân trần, nếu thấy chỉ đúng thì chấp nhận, rồi do cả Tăng chúng phán định. Phán định có lỗi, và lỗi gì, thì y Luật mà sám hối: như vậy là phục hồi thanh tịnh. Về cách thức và lời nói tự tứ, Tôn mật đại sư viết, kẻ đương cục hay mù mờ, nên phải nhờ người bàng quan chỉ cho những chỗ ưu điểm và nhược điểm, như thế dẫu chưa diệt vô minh, chứng thánh quả, thì cũng diệt tội lỗi, sinh phước đức. Nên trần vai áo bên phải (tức sửa pháp y), quỳ trước Tăng chúng mà bạch, "Đại đức, hay Trưởng lão, hoặc thấy tôi có lỗi, hoặc nghe tôi có lỗi, hoặc nghi tôi có lỗi, xin tùy ý nêu lên, thương mà nói cho tôi, tôi sẽ sám hối". Như vậy thì thân tâm sẽ thanh tịnh như ngọc pha lê, thiền định giải thoát có thể có được (Vạn 35/121B). Lời này không được như nguyên ngữ của Luật bằng lời sau đây, do Trí húc đại sư dẫn, "bạch Đại đức chúng tăng, hôm nay là ngày tự tứ, tôi cũng xin tự tứ. Nếu thấy, nghe hay nghi tôi có tội gì, thì xin đại đức (hay trưởng lão) vì thương xót mà nói cho tôi. Nếu tôi thấy tội ấy thì sẽ như pháp sám hối". Theo thứ tự, ai cũng phải thưa như vậy 3 lần. Tự tứ rồi mới hoàn tất việc an cư (Vạn 35/156B). Cả 2 lời trên đây, không bằng cách thức và lời nói thọ tuế (tự tứ) trong Tăng a hàm: Bấy giờ, đến ngày rằm tháng bảy, đức Thế tôn trải tọa cụ ngồi giữa chỗ đất trống. Các vị tỷ kheo ngồi vây quanh ngài. Ngài bảo tôn giả A nan, hãy đánh kiền chùy lên. Vì hôm nay là rằm tháng bảy, ngày thọ tuế. Tôn giả thưa, thọ tuế là thế nào, thì ngài dạy, thọ tuế là làm sạch động tác của thân miệng ý. Cứ mỗi 2 vị tỷ kheo đối diện với nhau mà tự trình bày nhược điểm của hành vi. Bằng cách tự xưng pháp danh của mình và nói rằng, hôm nay Tăng chúng thọ tuế, tôi cũng muốn thanh tịnh nên thọ tuế, xin tha thứ cho lỗi lầm của tôi. Tôn giả A nan lại hỏi, việc này là pháp của chư Phật hay chỉ đức Thế tôn có? Đức Thế tôn nói, quá khứ vị lai hằng sa chư Phật đều có, như ta có ngày nay. Tôn giả A nan hoan hỷ hết sức, tức thì lên giảng đường đánh kiền chùy mà nói, tôi đánh lên hiệu lịnh của Như lai, đệ tử của ngài xin tập hợp lại! Tăng chúng tập hợp cả rồi, đức Thế tôn nhìn mà nói, hôm nay tôi thọ tuế: tôi có lỗi với ai không? thân miệng ý của tôi có phạm lỗi gì không? Đức Thế tôn nói đến 3 lần như vây, rằng hôm nay tôi muốn thọ tuế: tôi có lỗi gì với tăng chúng không? Tôn giả Xá lợi phất đứng dậy, bạch đức Thế tôn: Tăng chúng quan sát Như lai, không thấy có lỗi gì về thân miệng ý. Như lai cũng không có lỗi gì với ai. Còn phần con, con xin hướng về Như lai mà tự trình bày: con có lỗi gì với Như lai và Tăng chúng không? Đức Thế tôn bảo, Xá lợi phất, tôn giả không có hành động gì phi chánh pháp nơi thân miệng ý. Tôn giả Xá lợi phất lại thưa, bạch đức Thế tôn, tất cả tỷ kheo tăng đây cũng muốn thọ tuế: tất cả tỷ kheo tăng đây có lỗi gì đối với Như lai không? Đức Thế tôn dạy, không (lược dịch Chính 2/676). Tạp a hàm cũng nói, bấy giờ là ngày rằm tháng bảy, ngày thọ tự tứ. Đức Thế tôn trải tọa cụ trước Tăng chúng mà ngồi, nói, chư vị tỷ kheo, tôi có thể bạt nhổ cho chư vị mũi kiếm đã đâm vào chư vị. Chư vị là con tôi, từ miệng của tôi mà sinh, từ pháp hóa của tôi mà sinh, hưởng phần tài sản chánh pháp của tôi. Chư vị hãy nhiếp thọ tôi, đừng để thân miệng ý của tôi có những điều đáng hiềm trách. Tôn giả Xá lợi phất đứng dậy, sửa pháp y, lạy mà thưa, bạch đức Thế tôn, chúng con không thấy thân miệng ý của đức Thế tôn có điều gì đáng hiềm trách. Còn phần con, con xin đức Thế tôn nhiếp thọ cho con, thấy, nghe hay nghi con có lỗi gì không, thân miệng ý của con có điều gì đáng hiềm trách không? Đức Thế tôn dạy, thân miệng ý của tôn giả không có điều gì đáng hiềm trách mà tôi thấy, nghe hay nghi. Tôn giả Xá lợi phất lại thưa, bạch đức Thế tôn, phần con không có, còn Tăng chúng đây có vị nào đức Thế tôn thấy, nghe hay nghi thân miệng ý có điều gì đáng hiềm trách không? Đức Thế tôn dạy, tôi cũng không thấy nghe hay nghi vị nào trong Tăng chúng này có điều gì đáng hiềm trách về thân miệng ý (lược dịch Chính 2/330). Như vậy sự tự tứ thật quan trọng. Chính Phật cũng tự tứ như ta thấy.

Cha mẹ bảy đời không phải là ông cha 7 thế hệ, mà là cha mẹ bảy đời kiếp đã qua của mình. Nhưng, chặt tất cả cây cối trên cõi đất này làm những cái thẻ bằng 4 đốt ngón tay mà tính đi nữa, cha mẹ quá khứ vẫn nhiều hơn (Chính 2/241). Như vậy tại sao chỉ nói 7 đời? Trong kinh điển Phật giáo, và các sách xưa của Ấn độ cũng vậy, không hiểu vì lý do hoặc tập quán nào mà hay lấy số 7 làm thành số như ta lấy số 10 làm thành số. Nói cả 7 đời thì cũng như nói mười phần vẹn mười, chứ không phải là định số.

Những kẻ đang ở trong vòng khổ nạn là cha mẹ bà con trong hiện tại và trong quá khứ mà đang bị khổ nạn. Nhưng câu này cũng có nghĩa cha mẹ bà con hiện tại và quá khứ, cùng những kẻ đang bị khổ nạn khác.

Đủ hết mùi vị và ngon nhất, chính văn là bách vị và tận thế cam myլ nghĩa đen là trăm mùi và ngon tốt nhất đời, chỉ là những thành ngữ tả sự đủ mùi và ngon nhất. Các thứ trái củ, chính văn là ngũ quả, nghĩa đen là trái củ đủ cả 5 loại, cũng chỉ có nghĩa các thứ trái và củ. Những câu trên đây là nói về thực phẩm, còn 3 câu dưới đây là nói về dụng cụ. Bồn chậu múc rưới là dịch nghĩa đen chính văn cấp quán bồn khí. Bồn chậu ở đây là thau chậu và những dụng cụ lớn nhỏ cùng loại, dùng để múc nước, đựng nước mà rưới, rửa, tắm ... Hương dầu đèn nến, nói đại loại là hương đèn, để cúng Phật và dùng vào những việc cần thiết những thứ này. Giường có đồ nằm, chính văn là sàng phu ngọa cụ, dịch đủ là giường có đồ nằm trải đặt trên đó, tức gồm có màn, chiếu, gối, chăn nệm ... Năm 1956 lên Lào dự lễ Phật đản, tôi thấy Phật tử xứ ấy sắm những chiếc giường mới, với chăn, màn, khăn trải, chiếu, nệm, gối, tất cả đều mới. Những chiếc giường này được sắp để có hàng lối thứ tự trước mặt Tăng chúng, và của ai thì cả gia đình người ấy ngồi dưới đất, cạnh chiếc giường, cầu nguyện theo Tăng chúng cho đến ngày giờ hiến cúng. Trên những chiếc giường ấy còn để nhiều vật dụng khác, cần thiết cho một vị tỷ kheo được dùng theo giới luật cho phép. Trong số vật dụng ấy có 1 cái làm bằng thiếc mà tôi tạm gọi là bồn, không lớn như cái bồn theo tiếng ta, mà chỉ cao cỡ 3 tấc kể cả chân, miệng hình tròn hay hình thuẫn, trong đó chứa để thực phẩm đầy đủ cho 1 người ăn. Bồn này có người không chứa để thực phẩm mà chứa để những vật dụng linh tinh cần thiết cho một vị tỷ kheo. Khi hiến cúng, người cúng 2 tay bưng cái bồn ấy, tượng trưng cho cả chiếc giường và mọi vật dụng khác, trao cho vị tỷ kheo - Trao theo thứ tự chứ không phải lựa chọn hay định trước. Phải trao và trao bằng 2 tay, vì ngay Luật tạng Hoa văn cũng cấm người xuất gia tự tay lấy vật dụng mà không qua 2 tay trao cho của người hiến cúng đúng cách (Vạn 35/124A).

Đặt vào trong bồn, bồn ở đây chính là bát. Bát là gọi tắt chữ Phạn dịch âm Bát đa la, và dịch nghĩa là ứng khí : đồ của vị tỷ kheo dùng để ứng cúng mà ứng với cái lượng đủ ăn. Chữ bát gọi tắt này hay đi đôi với chữ bồn, gọi là bát bồn, là tiếng gồm cả Phạn Hoa, và bồn là nghĩa nôm na của bát. Gọi chung như vậy cũng có lý do. Nguyên chén để ăn, Tàu gọi là bát, viết trên chữ hữu là bạn bè, dưới chữ mãnh là đồ bát đĩa, và khi gọi thì hay kèm với chữ bồn cũng là chén ăn nhưng lớn hơn, thành tiếng bát bồn. Tiếng bát bồn này qua nhà chùa thì bát viết bên chữ kim bên chữ bản, tức chữ bát đã nói ở trên và gọi bát bồn cũng với cái nghĩa đã nói ở trên.

Chính bồn là bát của Tăng chúng này, người cúng đặt thực phẩm vào đó mà hiến cúng. Có điều trước khi đặt vào đó, thực phẩm được đặt vào cái bồn như Phật tử Lào làm và tôi đã kể, hoặc vào bát dĩa như Phật tử Việt Hoa làm - Bát dĩa ấy ngài Trí húc nói gọi chung là bồn (Vạn 35/151B). Nói tóm, bồn trong câu vào bồn Vu lan ở đây hay sắm Vu lan bồn ở sau, chính là bát, là bát ứng khí của Tăng chúng. Còn bồn như dụng cụ Phật tử Lào dùng hay bồn là bát đĩa như ngài Trí húc nói, chỉ là đồ để thực phẩm trước khi đặt thực phẩm ấy vào bát bồn của Tăng chúng.

Hiến cúng Thập phương đại đức tăng chúng, hiến cúng hay hiến, cúng, cúng dường (cung dưỡng), bố thí, cho, tất cả đều nghĩa là cho, chỉ đổi tiếng theo mỗi trường hợp mà thôi. Tuy nhiên, cái cách và cái lòng hiến cúng bố thí mới là quan trọng và phải nói . Có của mà cách cho của lếu thì không ra gì. Tôi trích, và lược dịch sau đây, từ trong Tăng a hàm, những lời Phật huấn dụ để thấy cái cách ấy. Phật dạy, miệng ta không nói cho ta phước nhiều, cho người khác phước ít (Chính 2/827). Cho thì phải bình đẳng, đừng nghĩ nên cho kẻ này, không nên cho kẻ khác. Hãy nghĩ ai cũng nhờ ăn mới sống mà cho (Chính 2/826). Từ khi mới phát tâm cho đến ngày thành đạo, lòng ta không có sự đầy vơi, không chọn người, không chọn địa phương. Nên cho thì phải nhớ mãi ý niệm bình đẳng, đừng sinh tâm thị phi (Chính 2/826). Ba tư nặc vương bạch Phật, từ nay con cấm ngoại đạo vào lãnh thổ của con. Con xin luôn luôn cúng dường những thứ cần dùng cho Tăng chúng. Phật dạy, đừng nói như vậy; cho súc vật còn được phước, nữa là (Chính 2/781). Hãy cho kịp thời, cho trong sạch, cho bằng tay mình, cho với lòng cầu nguyện chứ không kiêu căng, cho một cách giải thoát chứ không cầu quả báo, cho mà cầu niết bàn chứ không cầu sinh chư thiên, cho một cách tìm ruộng phước mà cho chứ không bỏ vào đất hoang, cho rồi đem cái phước ấy cho mọi người mọi loài chứ không vì bản thân (Chính 2/755). Trưởng giả Sư tử thưa, nghe Phật ca tụng cái phước hiến cúng Tăng chúng, chứ không ca tụng cái phước thỉnh cúng riêng, nên từ nay về sau, con xin luôn luôn chỉ hiến cúng Tăng chúng. Phật dạy, ta không nói rằng chỉ nên hiến cúng Tăng chúng mà không nên cho ai. Vì cho súc vật mà còn có phước, huống chi cho mọi người. Trưởng giả thưa, như vậy từ nay về sau con sẽ hiến cúng Tăng chúng và mọi người mà không chọn lựa ai cả. Sau đó, lần khác, trưởng giả Sư tử lại thưa Phật, con đang nhớ lời ngài dạy thỉnh Tăng mà hiến cúng, thì có thiên nhân đến bảo con, nên phân biệt vị này thế này, vị khác thế khác. Con nghĩ lời Phật không nên trái. Con lại nghĩ, con hiến cúng tất cả, còn ai giữ giới thì phước báo vô cùng, ai phạm giới thì tự chịu tai họa. Con chỉ nghĩ ai cũng phải ăn mới sống nên hiến cúng mà thôi. Phật dạy, đó là cái nguyện rộng rãi, cái tâm bình đẳng của bồ tát. Trưởng giả hãy nhớ, bố thí bình đẳng thì phước báo vô tận. Bấy giờ trưởng giả Sư tử chăm nhìn Thế tôn, lòng không xao động, tức thì chưa rời khỏi chỗ mình ngồi mà đã được sự trong sạch của con mắt chánh pháp (Chính 2/792). Từ nay sắp đi, con cấm ngoại đạo vào nhà con. Con chỉ mời đệ tử Phật, tại gia cũng như xuất gia. Đó là lời thưa Phật của cư sĩ Ưu ba ly. Phật dạy, cư sĩ cứ nên tùy sức mà tiếp tục hiến cúng cho họ. Cư sĩ, ta không nói nên cho ta mà đừng cho kẻ khác, nên cho đệ tử của ta mà đừng cho đệ tử kẻ khác, cho ta thì phước lớn mà cho kẻ khác thì phước nhỏ, cho đệ tử của ta thì phước nhiều mà cho đệ tử của kẻ khác thì phước ít. Cư sĩ, ta nói như thế này, hãy cho tất cả, tùy tâm hoan hỷ. Có khác chăng là cho người tinh tiến thì phước nhiều hơn là cho người biếng nhác, mà thôi (Chính 1/630). Ty tứ vương bố thí nhưng cho đồ xấu, viên đầu bếp của ông là Ưu đà ra tìm cách cải thiện tâm cho và cách cho ấy, nên chết rồi sinh lên tầng trời Tứ thiên vương, còn Ty tứ vương chết rồi chỉ được sinh trong cung điện trống rỗng của rừng Nhĩ thọ thuộc tầng trời ấy. Tôn giả Kiều kiệm bát đế thấy, hỏi, Ty tứ vương xưng tên, tôn giả ngạc nhiên : ông chủ trương không có đời sau, sao lại được lên đây? Ty tứ vương thưa có, nhưng đã được ngài Cưu ma la ca diếp làm cho tiêu tan. Tôn giả trở lại Diêm phù, con xin ngài nói cho ai nấy hiểu rằng, khi bố thí làm phước thì phải cho một cách thành tâm, cho bằng cách tự tay mình đưa, cho bằng cách tự mình đi đến, cho với đức tin sâu xa, cho với sự xác nhận có nghiệp và nghiệp báo. Đừng cho để rồi chịu cái nghiệp báo như Ty tứ vương này. Ty tứ vương này là chủ mà cho không thành tâm, nên sinh tầng trời Tứ thiên vương mà chỉ được ở trong cung điện trống rỗng của rừng rú (Chính 1/532). Đế thích, có 7 việc mà ta gọi là sự bố thí rộng rãi cho mọi người, và thực hành thì sinh ngay lên Phạn thiên: xây dựng Phật tháp Tăng phòng, lập vườn cây ăn quả có ao hồ cây cối mát mẻ, cung cấp thầy thuốc và thuốc để cứu chữa bịnh nhân, làm thuyền bè chắc chắn cho dân chúng qua sông vượt biển, thiết lập cầu cống, đào giếng bên đường cung cấp nước cho người qua đường, làm chỗ vệ sinh công cộng cho đại tiểu tiện lợi (Chính 16/777). Như vậy cho mà lòng cho và cách cho đều đúng với giáo huấn của Phật, lại cho đúng với nhu cầu mà Phật chỉ dẫn, mới có phước lớn.

Nói tóm, đoạn kinh trên đây, như đã nói, là chỉ cách trai tăng trong ngày tự tứ để cứu độ cha mẹ. Cách ấy, cho đến đây, vẫn còn vài chi tiết cần thảo luận.

Thứ nhất, chính văn nói sắm đủ mọi thứ, mà là thứ tốt. Nói như vậy mà nếu hiểu như vậy thì mấy ai làm nổi. Phải hiểu nói như vậy chỉ là nói sự hết lòng chân thành. Đem sự hết lòng ấy mà tùy sức và tùy nghi hiến cúng. Chứ không phải hiến cúng phải cho nhiều, cho tốt, càng không phải có gì hiến cúng cho hết. Hiến cúng để rồi gây ra hậu quả hư hỏng thiện tâm nơi bản thân hay nơi người nhà hoặc người xung quanh, thì đó là điều Phật tối kﮠLại nữa, không nhất thiết phải có của mới hiến cúng được. Phật nói của có thứ ở trong, có thứ ở ngoài. Của ở ngoài là tài sản, của ở trong là sức lực và tư tưởng: đem sức lực và tư tưởng mà đóng góp vào sự hiến cúng thì cũng như, và có khi hơn, hiến cúng tài sản. Viên đầu bếp của Ty tứ vương hơn chủ là vì biết hiến cúng cái của ở trong. "Thiện nam tử, trong đời có ai nghèo đến nỗi không có thân thể. Có thân thể thì thấy người làm phước, mình đem thân đến giúp, với lòng hoan hỷ không chán. Như vậy cũng là bố thí và cũng được phước đức. Phước đức ấy có khi bằng một phần, có khi bằng nhau, có khi hơn. Vì vậy mà khi thọ Ba tư nặc vương hiến cúng, ta chú nguyện cho cả nhà vua và những người nghèo khó cùng được phước như nhau" (Chính 24/1056).

Thứ hai, trong những lời trích dẫn ở trên có câu Phật ca tụng cái phước hiến cúng Tăng chúng chứ không ca tụng cái phước thỉnh cúng riêng. Lời này rất quan trọng. Lời này phân sự hiến cúng ra làm 2: cúng Tăng chúng và cúng riêng. Cúng Tăng chúng là cúng để cầu nguyện, và cúng với sự thỉnh cúng theo thứ tự chứ không thỉnh cúng riêng. Trái lại, cúng riêng thì vì lý do nào đi nữa cũng không được gọi là hiến cúng Tăng chúng. Thỉnh cúng riêng là thỉnh cúng theo ý thích riêng, thích vị nào thì mời riêng vị đó, không do Tăng chúng thọ thỉnh cúng và phái cử đi dự. Thỉnh cúng Tăng chúng theo thứ tự là thế này. Tăng chúng từ mười phương bốn hướng qui tụ lại một nơi, sự qui tụ ấy mau, lâu hay vĩnh viễn, và qui tụ bất cứ nhiều hay ít, bất cứ thường trú hay khách tăng, vị tri sự đương xứ phải y theo tuổi thọ giới mà lập thứ tự (bằng cách có thể ghi thành bản danh sách). Khi có người muốn thỉnh cúng, thì thưa với vị tri sự rằng xin thỉnh cúng Tăng chúng, lại thưa rõ thỉnh cúng mấy vị. Vị tri sự thấy số thỉnh cúng đầy đủ thì trình bạch Tăng chúng họ thỉnh cúng và đi dự cả. Nếu thỉnh cúng ít đến nỗi chỉ một vài vị mà thôi, thì vị tri sự trình bạch Tăng chúng thọ thỉnh cúng và phái cử số người đại diện đi dự theo khả năng của người thỉnh cúng. Sự phái cử này chiếu theo thứ tự đã lập, và phái cử hết người này đến người khác, hết số này đến số khác, bao giờ giáp vòng thì bắt đầu trở lại. Như vậy người thỉnh cúng dầu ít nhiều gì cũng là thỉnh cúng Tăng chúng, còn Tăng chúng thọ thỉnh cúng dầu ít nhiều gì cũng là Tăng chúng thọ thỉnh cúng. Và cái phước mà người thỉnh cúng được là phước hiến cúng Tăng chúng mười phương.

Liên quan đến việc thỉnh cúng và thọ thỉnh cúng theo thứ tự mà không riêng biệt này, tôi lược dịch một đoạn văn sau đây của Tăng a hàm để thấy rõ hơn. Phật hỏi tôn giả La vân, ông ở đâu đến đây? Tôn giả thưa, con thọ sự thỉnh cúng của trưởng giả Sư tử rồi đến đây. Vật thực tốt không? Rất tốt, và nhiều nữa. Tăng chúng thọ thỉnh bao nhiêu, ai là thượng tọa? Thượng tọa là tôn giả Xá lợi phất, Tăng chúng thần đức có đến 500 vị. Như vậy ông nghĩ trưởng giả Sư tử được phước nhiều không? Rất nhiều. La vân, nếu từ trong tăng chúng mà thỉnh cúng được 1 vị do Tăng chúng phái cử theo thứ tự, thì cái phước này hơn cái phước hiến cúng 500 vị La hán đến trăm ngàn vạn lần. Cái phước của Tăng chúng khó có ai biết được giới hạn. Sự thỉnh cúng riêng biệt chỉ như những dòng sông nhỏ, có thể được phước, có thể không. Còn Tăng chúng thì như biển cả. Trong Tăng chúng có Tu đà hoàn hướng và quả, có Tư đà hàm hướng và quả, có A na hàm hướng và quả, có A la hán hướng và quả, có Duyên giác, có Phật. Vì vậy mà biết cái phước thỉnh cúng vị do Tăng chúng phái cử không có giới hạn (Chính 2/791). Cần phải nói thêm rằng sự thỉnh cúng và thọ thỉnh cúng phải theo thứ tự mà không được riêng biệt là giới 27 và giới 28 của Bồ tát giới Phạn võng, "thỉnh cúng thứ tự là thỉnh cúng được mười phương hiền thánh tăng, thỉnh cúng riêng biệt thì 500 vị la hán tăng và bồ tát tăng cũng không bằng 1 vị phàm phu tăng do Tăng chúng phái cử theo thứ tự. Thỉnh cúng riêng biệt là nề nếp ngoại đạo, 7 đức Phật không có qui chế ấy". (Chính 24/1007).

Chính trong ngày này, các hiền thánh tăng hoặc tu thiền định ở trong rừng núi, hoặc đã thành tựu bốn thứ đạo quả, hoặc thường kinh hành dưới gốc đại thọ, hoặc là Thanh văn hay là Duyên giác đủ sáu thần thông giáo hóa tự tại, hoặc chính những vị Bồ tát đại sĩ đã lên thập địa mà lại phương tiện hiện tướng tỷ kheo, tất cả qui tụ ở trong Tăng chúng, đồng đẳng nhất tâm mà thọ tự tứ. Vì có đầy đủ giới pháp thanh tịnh, cho nên đạo đức của Tăng chúng ấy sâu rộng mênh mông.

Thiền định trong núi hay kinh hành dưới cây, cũng trong núi, là tu hạnh đầu đà của tôn giả Đại ca diếp. Bốn đạo quả là tu đà hoàn, tư đà hàm, a na hàm và a la hán, đó là 4 đạo quả của Thanh văn. Thập địa là 10 địa vị gần cuối cùng của 52 địa vị Bồ tát: cực hỷ, ly cấu, phát quang, diệm tuệ, nan thắng, hiện tiền, viễn hành, bất động, thiện tuệ, pháp vân; sau 10 địa này chỉ còn 1 (diệu giác) hay 2 (diệu giác, đẳng giác) giai đoạn rất ngắn nữa là thành Phật đà. Thập địa bồ tát hiện tướng tỷ kheo là "trong cất hạnh bồ tát mà ngoài hiện hình thanh văn".

Tất cả các vị mà chính văn liệt kê đều là hiền thánh tăng, "những vị có đủ giới định tuệ, lấy tuệ giác vô thượng làm sinh mạng mà sống, và vị thầy giới luật ở luôn với các ngài" (Chính 2/210); "những vị sống đồng nhất, tự độ và độ người bằng tam thừa" (Chính 2/254). Nhưng, ngoài hiền thánh tăng, thành phần chính của Tăng chúng vẫn là phàm phu tăng. Thành phần ấy bao gồm trong chữ Tăng chúng của chính văn, chứ không thể không có. Bởi vì luật của Tăng chúng là như vậy, bởi vì "nhà Cồ đàm rất rộng", dung được cả những kẻ hý lộng ngài (Chính 2/362). Phàm phu tăng có 2 hạng, hạng có giới luật và hạng chỉ có hình thức.

Hạng có giới luật biết thanh sắc và đời sống hoa myՠlà hiện thân ma vương. Ma vương luôn luôn rình rập đằng sau, tìm cơ hội mà phá hoại. Ma vương muốn đoạt các giác quan bằng thanh sắc và đời sống hoa myծ Biết vậy nên tỷ kheo không mê hoặc thanh sắc và đời sống ấy. Thì ma vương lo rầu mà thoái chí. Tỷ kheo biết thọ của tín thí rất khó tiêu hóa, dễ rơi ác đạo, dễ mất tuệ giác, nên tỷ kheo chuyên nhất, hy vọng được cái chưa được (Chính 2/560).

Hạng chỉ có hình thức tỷ kheo thì Trí húc đại sư nói rất phải: Thập luân kinh để lại huấn thị sau đây, "đừng khinh khi hủy nhục những người xuất gia, vì lẽ đầu cạo, y mang, chính là biểu tướng của hiền thánh tăng, dẫu phá giới cho đến không giới, trong giới luật của Phật họ chỉ là thây chết, chết rồi đọa ác đạo đi nữa, cũng vẫn làm được ruộng phước cho cả nhân thiên, ở chỗ vì có hình thức của hiền thánh tăng nên làm cho nhân thiên nhìn vào sinh nhiều cảm nghĩ thù thắng, lại có thể tuyên thuyết diệu pháp cho nhân thiên, bản thân cũng có chánh nguyện, và phạm tội thì biết sám hối. Hạng phàm phu tăng này thật ra không phải là thành phần của Tăng chúng, nhưng là cái thế lực thừa của giới đức xuất gia, là cái sức kính tin Tam bảo và thánh giới" (Vạn 35/157B, Chính 13/736 và 750).

Cho nên dẫu Thập phương tăng thọ cúng trong ngày tự tứ để làm cho cha mẹ hiện tại và quá khứ của người thỉnh cúng được siêu thoát đi nữa, Thập phương tăng ấy, theo Luật, cũng không phải chỉ có hiền thánh tăng. Tăng chúng quan trọng ở giới luật và biểu tướng xuất gia. Tăng chúng mà có, hay có tập, 5 đức sau đây, thì dầu thế nào đi nữa cũng vẫn là tăng số : Phật dạy Đế thích, Tăng chúng có 5 đức, là 1. phát tâm xuất gia vì cảm mến Phật pháp, 2. hủy bỏ hình đẹp vì thích ứng pháp y, 3. cắt bỏ ân ái vì không còn thân sơ, 4. khinh thường tính mạng vì tôn sùng Phật pháp, 5. chí cầu đại thừa vì hóa độ tất cả. Vì 5 đức này mà gọi là ruộng phước, làm cho lúa phước đức ngon, tốt, không chết khô, chết sớm, và hiến cúng thì phước khó có gì so sánh được (Chính 16/777).

Đồng đẳng nhất tâm mà thọ tự tứ, chính văn là giai đồng nhất tâm thọ bát hòa la phạn. Bát hòa la, Phạn tự là pravarana, dịch nghĩa là tự tứ. Bát hòa la không phải là bát đa la như một số người hiểu lầm. Bát đa la, Phạn tự là patra, dịch nghĩa là ứng khí. Vì lầm bát hòa la là bát đa la, nên hiểu rằng chính văn ở đây nói sự thọ thực, và thêm vào chữ "phạn" để nói rằng thọ cơm trong bát. Tôi quyết đoán chữ "phạn" được thêm vì 2 lý do. Thứ nhất, chính văn ở đây đang nói về sự Tăng chúng đồng thọ tự tứ. Và phải nói như vậy mới đúng với văn nghĩa ở đây. Tăng chúng thọ tự tứ rồi mới thành Tăng chúng tự tứ, đủ giới đủ đức cho người hiến cúng trong ngày tự tứ để giải cứu cái khổ đảo huyền cho cha mẹ. Còn việc thọ thực sẽ nói sau đoạn này một đoạn nữa. Thứ hai, tra trong bản dịch khác của kinh này (mà rõ ràng như là sao lại) thì không có chữ "phạn" ấy (Chính 16/780). Nếu chấp nhận chữ "phạn" thì thọ bát hòa la phạn có nghĩa là thọ cơm trai tăng trong ngày tự tứ, không có gì khúc mắc cả. Nhưng không thể chấp nhận như vậy chỉ vì, như đã nói, ở đây văn, nghĩa và việc không phải và không thể như vậy.

Nói tóm, đoạn văn trên đây nói về thành phần Tăng chúng tự tứ. Tất cả hiền thánh tăng và phàm phu tăng đều phải thọ tự tứ sau khi an cư. Thọ tự tứ rồi mới thành Tăng chúng tự tứ, có đủ giới đức, cái đức căn bản và trọng đại trong việc địch lại nghiệp và nghiệp báo.

Ai được hiến cúng Tăng chúng tự tứ đã nói trên đây, tất cả cha mẹ cùng với bà con trong đời hiện tại mà đã quá vãng thì thoát thống khổ ở trong ba đường - thoát được tức thì, cơm áo tự nhiên; cha mẹ bà con trong đời hiện tại mà đang sống còn thì hưởng phước lạc, sống lâu trăm tuổi. Đến như cha mẹ bảy đời quá khứ thì sinh chư thiên, tự tại hóa sinh ở trong thiên giới hoa lệ chói sáng.

Đoạn này nói hiến cúng được Tăng chúng tự tứ mới cứu khổ được cho cha mẹ. Câu ai được hiến cúng Tăng chúng tự tứ đã nói trên đây làm cho sự nhận định thọ bát hòa la phạn chỉ là thọ tự tứ (chứ chưa phải thọ cơm tự tứ) được thế hơn lên của văn khí.

Chính văn ở đây nói về cha mẹ hiện tại rất rõ ràng: cha mẹ trong đời này mà đã quá vãng thì siêu thoát tức thì, cơm áo tự nhiên; còn cha mẹ trong đời này mà đang sống còn thì phước lạc và sống lâu. Siêu thoát tức thì là như mẹ ngài Mục liên sẽ nói ở sau. Cơm áo tự nhiên là sinh trong nhân loại và chư thiên, với đời sống hạnh phúc. Phước lạc là không bịnh và không khổ như đoạn sau sẽ nói.

Bấy giờ Thế tôn qui định điều này: Thập phương tăng chúng trước hết chú nguyện cho người trai chủ, chú nguyện cho đến cha mẹ bảy đời. Định ý chú nguyện rồi mới thọ thực. Trước đó hãy đặt mọi thứ trai soạn trước án thờ Phật tại chỗ trai tăng hay trong chùa tháp. Tăng chúng chú nguyện rồi mới tự thọ.

Những đoạn trước đã dạy cách hiến cúng Tăng chúng tự tứ, đã nói về sự thọ tự tứ của Tăng chúng, đã nói năng lực cứu khổ cha mẹ của sự hiến cúng Tăng chúng tự tứ. Đoạn này dạy sự thọ thực. Và đây mới nói đến sự ấy.

Tăng chúng thọ thực, đúng ra, trường hợp nào cũng phải làm theo nghi thức. Chỉ khác là nghi thức ấy được tụng tiếng hay niệm thầm mà thôi. Động tác thọ thực, theo chính văn trên đây, đại khái có 3, là chú nguyện, cúng Phật, thọ thực. Nhưng xét văn ý và sự việc thì 3 động tác này cần đổi thứ tự, là cúng Phật, chú nguyện rồi thọ thực.

Cúng Phật tức như ngày nay tụng nghi thức cúng dường, trên điện Phật hay ngay nơi trai bàn.

Cúng Phật rồi chú nguyện. Chú nguyện cho trai chủ, cho cha mẹ bà con trong hiện tại và trong quá khứ của họ. Chính văn nói chú nguyện cho đến cha mẹ bảy đời có nghĩa là chú nguyện cho cha mẹ bà con từ hiện tại cho đến quá khứ. Chú nguyện như đoạn trên đã nói, "cha mẹ bà con trong đời hiện tại mà đã quá vãng thì thoát thống khổ ở trong ba đường - thoát được tức thì, cơm áo tự nhiên ; cha mẹ bà con trong đời hiện tại mà đang sống còn thì hưởng phước lạc, sống lâu trăm tuổi. Đến như cha mẹ bảy đời quá khứ thì sinh chư thiên, tự tại hóa sinh ở trong thiên giới hoa lệ chói sáng". Lại chú nguyện cho trai chủ cùng với những người giúp công, góp sức hay là tùy hỷ trong sự hiến cúng đều được tăng trưởng phước lạc, sống lâu, đạo niệm tăng tiến, đời đời kết thành bà con Phật pháp. Định ý chú nguyện là tập trung tư tưởng, định tâm mà chú nguyện như vậy. Định ý còn là căn bản phải có trong tất cả động tác và tâm tư suốt thì gian thọ thực.

Chú nguyện rồi thọ thực. Nhưng bưng bát cơm lên thì phải xét nghĩ 5 điều là 1. Xét công lao nhiều ít và tìm hiểu xuất xứ của thực phẩm, 2. Xét đức hạnh của mình đủ hay thiếu để hưởng thọ thực phẩm ấy, 3. Đề phòng tâm lý tránh những tính xấu mà phần chính vẫn là tham sân si, 4. Mục đích chính là lấy thực phẩm làm dược phẩm tốt để trị liệu thân thể gầy yếu, 5. Vì thành đạo nghiệp mà hưởng thọ thực phẩm ấy. Lại phải tự nhắc 3 đại thừa giới: nguyện đoạn điều ác, nguyện làm điều lành, nguyện độ chúng sinh. Rồi mới thọ thực. Thọ thực xong thì kiết trai. Trong sự kiết trai cũng có sự chú nguyện: chú nguyện cho trai chủ, chú nguyện cho cha mẹ bà con trong hiện tại và trong quá khứ của trai chủ, chú nguyện cho chúng sinh.

Như đã nói, định ý là căn bản suốt thì gian thọ thực. Nghĩa là khi ăn thì tập trung tư tưởng của mình vào các động tác, vào ý nguyện của trai chủ, nhất là vào sự hổ thẹn. Miệng không nói chuyện, thân không mất uy nghi, tâm không ham ngon, ghét dở.

Thọ thực mà như vậy, và như vậy sau khi an cư tự tứ, thì người hiến cúng, người thọ cúng, và thân nhân của người hiến cúng, tất cả đều được những sự nghĩa lợi của Phật pháp, trong hiện tại cũng như trong vị lai.

Khi ấy tôn giả Đại mục kiền liên, liệt vị đại sĩ đều rất hoan hỷ. Tiếng khóc bi thảm của ngài Mục liên tức thì tan biến. Thân mẫu của ngài ngay trong ngày ấy thoát được thống khổ một kiếp ngạ quỉ.

Đại sĩ là đại bồ tát. Chính sự hiện diện của liệt vị đại sĩ trong pháp hội Phật thuyết kinh này, thêm nữa, kinh này nói trong hiền thánh tăng có Thập địa bồ tát hiện thân tỷ kheo, làm cho kinh này và thắng pháp Vu lan đều thuộc đại thừa.

Thân mẫu tôn giả Mục liên được thoát liền cái kiếp ngạ quỉ là phải. Được thoát liền vì chính hiếu hạnh của con, vì công đức duyên khởi thắng pháp Vu lan của con, vì uy lực của Phật và của thắng pháp Vu lan, vì ảnh hưởng của thắng pháp Vu lan đến tận ngày nay vẫn còn.

Tôn giả Mục liên liền đó lại thưa, bạch đức Thế tôn, thân mẫu của con đã được siêu thoát là nhờ năng lực công đức Tam bảo, trong đó gồm có uy lực Tăng chúng. Trong thì vị lai, hết thảy Phật tử có thể hay là không thể phụng hành thắng pháp Vu lan, cứu độ cha mẹ trong đời hiện tại cho đến bảy đời bằng cách làm theo lời đức Thế tôn đã dạy như trên?

Đối với Tam bảo, Phật tử nghĩ rằng Tam bảo còn mình còn, Tam bảo mất mình mất (Chính 2/821). Phật tử gồm cả 4 chúng tại gia xuất gia, và đại thừa tiểu thừa đều định nghĩa rằng sinh ra từ miệng Phật, sinh ra từ pháp hóa của Phật, hưởng phần tài sản chánh pháp của Phật. Phật lại nói như sau, trong Tăng a hàm: Nếu tỷ kheo tự phấn chấn, phấn chấn với nỗi thích thú về chánh pháp, thì những người như vậy đích thân ta sinh ra (Chính 2/783).

Như đã nói, nội dung kinh này có 2 phần. Phần trước là nguyên nhân và cách thức của thắng pháp Vu lan. Phần sau mang một huấn thị có tính chất Luật của Phật. Đoạn văn trên đây là lời hỏi mở đầu huấn thị ấy. Lời hỏi muốn biết thắng pháp Vu lan có hạn chế đối với người nào và đối với lúc nào không. Nói cách khác, lời hỏi này cốt để Phật xác định rằng người nào và lúc nào cũng có thể và cũng cần phải báo hiếu cha mẹ -- tức phụng hành thắng pháp Vu lan, xác định rằng Phật tử là phải như vậy.

Đức Thế tôn dạy, Đại mục kiền liên, lời tôn giả hỏi rất đúng và hay. Như lai muốn nói, tôn giả lại hỏi. Đại mục kiền liên, các vị tỷ kheo hay tỷ kheo ni, quốc vương vương tử, đại thần tể tướng, tam công bách quan, cùng toàn dân chúng, ai muốn thực hành cái đức từ hiếu, thì trước nên vì cha mẹ hiện tại, kế đó nên vì cha mẹ bảy đời trong thì quá khứ, đến rằm tháng bảy ẫ ngày phật hoan hỷ, ngày Tăng tự tứ ẫ đặt để trai soạn đủ các mùi vị vào bồn Vu lan, hiến cúng mười phương Tăng chúng tự tứ, cầu nguyện cha mẹ đang còn hiện tại sống lâu trăm tuổi, không bịnh không khổ; cha mẹ bảy đời trong thì quá khứ thoát khổ ngạ quỉ, sinh trong nhân loại hay trên chư thiên, phước lạc vô cùng. Đệ tử Như lai thực hành từ hiếu, thì mỗi ý nghĩ thường thường tưởng nhớ cha mẹ hiện tại, cho đến cha mẹ bảy đời quá khứ. Hằng năm cứ đến ngày rằm tháng bảy, đem lòng từ hiếu tưởng nhớ song thân, sắm bồn Vu lan hiến cúng Phật đà, hiến cúng Tăng chúng, báo đáp ân đức từ ái nuôi dưỡng của cha của mẹ. Những ai đã là đệ tử Như lai, thì phải tuân giữ cách thức trên đây.

Từ hiếu nghĩa là từ bi chính là hiếu thảo. Phật giáo quan niệm hết thảy chúng sinh đều đã là hay sẽ là cha mẹ của ta, thực hành đức Từ đối với chúng sinh tức là thực hành đạo Hiếu. Nên từ hiếu là ý niệm căn bản của Bồ tát giới. Ngay đối với cha mẹ hiện tại cũng vậy, rõ ràng con mà có Từ thì tất là có Hiếu.

Ngày Phật hoan hỷ là ngày Tăng tự tứ. Phật hoan hỷ là vì Tăng tự tứ sau 3 tháng an cư, không những củng cố giới pháp cho bản thân mà còn củng cố Tăng chúng. Giới pháp và Tăng chúng còn là Phật pháp còn, còn một cách có hình thức lẫn nội dung nên Phật hoan hỷ. Nói riêng trường hợp thắng pháp Vu lan, thì nhờ Tăng chúng tự tứ sau khi an cư mà có đủ giới đủ đức cho cha mẹ của trai chủ được nhờ, nên Phật hoan hỷ. Mà ngày Phật hoan hỷ và Tăng tự tứ là ngày rằm tháng bảy, ngày Vu lan: như vậy ngày ấy quan trọng biết bao nhiêu.

Chính văn chỉ nói thoát khổ ngạ quỉ, chỉ vì nguyên nhân Phật dạy thắng pháp Vu lan là do mẹ ngài Mục liên làm ngạ quỉ, vì sự hiến cúng đối trị trực diện cái khổ đói khát. Chứ không phải thắng pháp Vu lan và giới đức Tăng chúng chỉ có mỗi một hiệu năng ấy.

Như đã nói, phần này mang một huấn thị của Phật có tính chất Luật. Huấn thị ấy là hễ Phật tử thì không kể tại gia hay xuất gia, phải biết ơn cha mẹ, phải có hiếu. Bất hiếu là kẻ vô ơn đối với chính cha mẹ của mình. Muốn báo hiếu thì phải phụng hành thắng pháp Vu lan, tức hiến cúng Tăng chúng tự tứ ngay trong ngày Tự tứ của Tăng chúng. Phật dạy ai biết trả ơn thì người ấy đáng kính. Người ấy ơn nhỏ còn không quên, huống chi ơn lớn. Người ấy dầu ở cách ta một ngàn hay trăm ngàn dặm cũng vẫn không xa ta, vẫn gần ta. Vì lẽ, các thầy tỷ kheo, ta luôn luôn ca tụng người biết trả ơn. Kẻ nào không biết trả ơn, thì ơn lớn cũng quên huống chi ơn nhỏ. Kẻ ấy không gần ta, ta không gần kẻ ấy. Kẻ ấy dẫu mặc pháp y và ở ngay bên trái hay bên phải của ta đi nữa, cũng vẫn xa ta (Chính 2/600).

Có một điều nên nêu lên ở đây. Là tại gia có thể phụng hành thắng pháp Vu lan, hiến cúng Tăng chúng, điều ấy khỏi nói, còn xuất gia thì phải phụng trì giới pháp, thọ cúng Vu lan, chứ làm sao có thể phụng hành thắng pháp Vu lan, hiến cúng Tăng chúng? Như trước tôi đã trích dẫn Tạp a hàm (Chính 2/22) cho thấy Phật đã dạy, "như pháp khất thực mà hiến cúng cha mẹ thì phước rất lớn". Ấy là Phật cho phép khất thực đúng cách để nuôi cha mẹ nếu cha mẹ nghèo khổ. Như vậy cũng có nghĩa có thể khất thực đúng cách để phụng hành thắng pháp Vu lan, hiến cúng Tăng chúng mà báo hiếu cha mẹ. Trước cũng đã nói người xuất gia không được phép cho rằng mình lo hướng dẫn cha mẹ làm lành, cho rằng mình xuất gia, thì như vậy đã là báo hiếu. Dĩ nhiên sự việc có thể là như vậy nếu cha mẹ không nghèo khổ. Nên không phải phải như vậy là hoàn toàn đúng. Vì lẽ Phật đã dạy mà tôi đã trích dẫn ở trước, rằng các thầy tỷ kheo, có 2 người mà các thầy hướng dẫn làm điều thiện đi nữa cũng vẫn chưa trả ơn được, đó là cha và mẹ... Các thầy phải phụng dưỡng cha mẹ, luôn luôn hiếu thuận cho đúng lúc, đừng lỡ mất cơ hội (Chính 2/601).

Nên thảo luận cho rõ. Dẫu cha mẹ không nghèo khổ, người xuất gia lo hướng dẫn cha mẹ làm lành, lo tu cho cha mẹ nhờ, nhưng vẫn phải đem sự hiến cúng đúng cách mà mình được có để phụng hành thắng pháp Vu lan, cầu nguyện cho cha mẹ, hiện tại cũng như quá khứ, như Phật đã huấn thị. Không thể chỉ hướng dẫn cha mẹ làm lành hay lo tu rồi thôi. Trường hợp cha mẹ nghèo khổ thì người xuất gia phải hiểu rằng, "Cha và mẹ là 2 vị Phật sống trong nhà" (Vạn 35/154A), và có 2 cách xử trí. Thứ nhất, nên tu tại gia mà tâm niệm xuất gia, để lo mưu sinh phụng dưỡng cha mẹ cho đến mãn phần đã. Thứ hai, nếu xuất gia trước khi cha mẹ nghèo khổ, thì được hiến cúng đúng cách phải đem phụng dưỡng cha mẹ. Trường hợp thứ hai tôi nói vẫn có căn cứ. Trí húc đại sư dẫn Ngũ phần luật, nói cả trăm năm vai phải cõng cha vai trái cõng mẹ, cung phụng phục sức và thực phẩm quí và lạ nhất, cũng không trả được một lát công ơn cha mẹ. Từ nay về sau, ta (Phật) cho phép các vị tỷ kheo cùng tận tâm lực và cùng tận đời sống của mình mà cung phụng cha mẹ. Ai không cung phụng cha mẹ thì bị trọng tội. Đại sư lại dẫn kinh Tỳ ni mẫu nói, cha mẹ mà nghèo thì các vị tỷ kheo truyền thọ cho tam qui ngũ giới, rồi hiến cúng cung phụng (Vạn 35/153A). Xưa, ngài Đạo kỷ đi đâu thì không e thẹn gì mà gánh cái gánh, 1 đầu để kinh tượng, 1 đầu để mẹ già và cái chổi, gặp tháp Phật là quét dọn (Vạn 35/107B). Mẫu chuyện ngắn này cho thấy, miễn là có lòng từ hiếu chân thành, biết nhớ ơn cha mẹ và biết lo báo hiếu, thì lòng chân thành ấy sẽ dạy cho ta những sáng kiến thích hợp, chưa chừng còn cảm động nữa.

Nhưng trên đây là bàn quanh trường hợp cha mẹ nghèo khổ của người xuất gia. Đến như trường hợp hiến cúng Tăng chúng tự tứ trong ngày tự tứ của Tăng chúng để cầu nguyện cho cha mẹ, hiện tại cũng như quá khứ, thì hiển nhiên lời huấn thị của Phật cho thấy tại gia xuất gia đều phải tuân hành. Trong kinh kể 500 quỉ đói múa hát mà đi, 500 người tốt khóc lóc mà đi. Có người hỏi Phật, ngài dạy, con cháu những quỉ đói ấy làm phước cho họ, họ sẽ siêu thoát nên múa hát, còn con cháu của những người tốt chỉ biết sát sinh, họ sắp bị khổ lớn nên khóc lóc (Vạn 35/106B). Sự việc này không phải chỉ để cảnh giác người tại gia mà thôi. Đứng về phương diện chung của Phật giáo mà nói, cái gì phù hợp tình người, nhất là đã thành tục lệ, cái đó rất quí. Một trong những cái đó là ngày Vu lan. Phật tử phải nhất tâm phụng hành huấn thị của Phật để làm cho ngày ấy càng sâu càng rộng hơn lên.

Khi ấy tôn giả Đại mục kiền liên cùng với bốn chúng đệ tử Thế tôn, nghe lời ngài dạy ai cũng hoan hỷ và nguyện phụng hành.

Bốn chúng Phật tử là tỷ kheo, trong đó có sa di tùy thuộc; là tỷ kheo ni, trong đó có thức xoa ma na và sa di ni tùy thuộc; là ưu bà tắc tức thiện nam ; là ưu bà di tức tín nữ. Bốn chúng còn là người (4 chúng trên), trời, rồng và thần (tức 8 bộ).

Kinh này đề cao ngày tự tứ của Tăng chúng, đề cao sự hiến cúng Tăng chúng tự tứ là Tăng chúng sống đúng giới luật, lại huấn thị phải báo hiếu bằng sự hiến cúng ấy. Như vậy gián tiếp kinh này đề cao ý niệm "hiếu là giới" của Bồ tát giới. Nên, để chấm dứt sự lược giải kinh này, tôi trích lời ngài Trí húc đã dẫn kinh Mạ ý, cho thấy Phật dạy "Giữ giới chính là để hiếu thuận báo ơn cha mẹ" (Vạn 35/153B). Tôi lại dẫn thêm Bồ tát giới nói rằng, quả báo của tội phạm giới nặng nhất là "đến nỗi trong hai hay ba kiếp không còn nghe được danh từ Cha mẹ hay Phật pháp tăng" là những danh từ gợi thiện niệm nhất. Vài lời như vậy cũng đủ để suy nghĩ nhiều lắm.

Tải về bộ kinh vu lan bồn

Tải về bộ kinh này theo file chữ PDF tại đây

Tải về bộ kinh theo file nghe MP3 tại đây

4.86 sao, trên tổng số 7 lượt đánh giá.
Tác giả: manager