Thích Giác Khang

    4.5 sao, trên tổng số 6 lượt đánh giá.

    SƠ LƯỢC TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG GIÁC KHANG

    Hòa thượng Giác Khang thế danh Tô Văn Vinh sinh năm 1941 tại tỉnh Bạc Liêu. Thân sinh là cụ ông Tô Khanh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Vén. Gia đình có 5 trai, 5 gái. Hòa thượng là con thứ 8 trong gia đình. Hòa thượng tốt nghiệp Tú Tài và học Cao đẳng Sư phạm. Ra trường đi dạy học ở Cái Côn - Cần Thơ.

    Trong thời gian đi dạy học, Hòa thượng có nghiên cứu các tôn giáo, trong đó có Phật giáo. Cảm nhận lời Phật dạy qua câu “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”, Hòa thượng ngộ được lý Bình đẳng của đạo Phật.

    Rồi từ đó Hòa thượng tiếp tục nghiên cứu sâu về giáo lý Phật giáo và đến tham vấn nhiều chư Tăng về sự xuất gia cũng như giáo lý Phật-đà. Hòa thượng cảm nhận được long từ bi của chư Phật qua giáo lý ăn chay, từ đó Hòa thượng phát tâm trường chay.

    Thấm nhuần lời Phật dạy và dạy ích của sự xuất gia giải thoát, đầu 1966, Hòa thượng phát nguyện xuất gia tu học nương theo Bổn Sư là Đức Tri Sư Giác Như tại Tịnh xá Ngọc Vân tỉnh Trà Vinh. Cùng năm ấy, Hòa thượng thọ giới Sa-di tại Tịnh xá Ngọc Vân - Trà Vinh.

    Đến rằm tháng 7-1971, Ngài thọ giới cụ túc Tỳ-kheo tại Tịnh xá Ngọc Viên - Vĩnh Long, rồi luân chuyển đến các Tịnh xá giáo đoàn I tu học để góp phần cùng chư Tăng hoằng pháp độ sinh tại các trú xứ.

    Đầu 1975, Hòa thượng theo đoàn Du Tăng Khất Sĩ của Đức Nhị Tổ và chư Tăng trong đoàn hành đạo tại tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau.

    Đến 1980, theo đoàn hành đạo về huyện Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng.

    Đến 1982, Hòa thượng về Tịnh xá Ngọc Vân - Trà Vinh tu học để phụ tiếp với Đức Tri sự Bổn Sư.

    Đến 17-4-1983, đức Tri sự Giác Như viên tịch, Hòa thượng tiếp nối kế thừa để trông nôm tịnh xá và hướng dẫn chư Tăng và Phật tử tu học.

    Chẳng những tại địa phương mà tại các đạo tràng có nhu cầu thỉnh pháp, Hòa thượng đều đến để thuyết giảng chánh pháp như: Tịnh xá Ngọc Trường, Chùa Phước Thành, Chùa Thanh Quang, Chùa Phước An. Các tịnh xá ngoài tỉnh như: Tịnh xá Ngọc Viên – Vĩnh Long, Tịnh xá Ngọc Lợi – Bạc Liêu, v.v…

    Vào ngày mùng 10/2/2013 (âm lịch), Hòa thượng và quí sư cùng Phật tử trong đoàn đi hành hương chiêm bái các Thánh tích Phật giáo Ấn Độ và có thăm viếng chùa Tây Tạng tại Dharamsala dưới chân núi Himalaya, Ấn Độ.

    Rồi sau đó, đoàn hành hương đến Thái Lan để thăm viếng các chùa. Đoàn dừng chân khoảng trên 1 tuần lễ và có ý đi Miến Điện để chiêm bái các Thánh tích.

    Kể từ đó, sức khỏe Hòa thượng yếu dần, chư Tăng và quí Phật tử tận tình chăm sóc. Hòa thượng cảm nhận biết rằng mình không còn tại thế lâu dài được nữa, nên Hòa thượng trình tâm nguyện lên Hòa thượng Giác Giới - Tri Sự trưởng GĐ1 liễu tri để Hòa thượng tạo duyên tu học cho chư Tăng và chư Phật tử đạo tràng Tịnh xá Ngọc Vân.

    Theo lời Phật dạy, các pháp hữu vi vô thường sinh diệt. Vào lúc 15 giờ ngày 30 tháng 3 năm Quý Tỵ. Hòa thượng thu thần thị tịch, để lại vô vàn sự kính tiếc của chư Tăng Ni và toàn thể quý Phật tử gần xa.

    Cụ thể cuộc đời Người trãi qua 4 thời kỳ

    CHIA RA 4 THỜI KỲ.

    Thời kỳ đầu tu học:

    Năm 1966, Ngài xuất gia theo hệ Khất sĩ tại Tịnh xá Ngọc Vân tỉnh Trà Vinh. Ngài có 2 Bổn Sư là Đức Trị sự Giác Như và Nhị Tổ Giác Chánh. Và Y Chỉ Sư là Sư Giác Thức. Năm 1968 đến năm 1983, Ngài theo Nhị Tổ Giác Chánh đi hành đạo khắp nơi ở miền Tây Nam bộ. Học “Chơn lý” và hành trì “Trú dạ lục thời” theo giáo lý Khất sĩ của Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang.

    Vào thời này Ngài thường xuyên nhập vào định tam thiền, do đó sau khi đi bát, độ ngọ xong là Ngài thường tìm chỗ vắng vẻ nhập vào thiền định từ 7-9 tiếng đồng hồ nghiền ngẫm thuần thục bộ Chơn lý. Nhưng trong quá trình tu học, Ngài thấy bế tắc về Bát nhã, về con đường giải thoát, Ngài thất vọng vô cùng. Trong lúc chán nản đến cùng tột, chợt nhìn trên kệ kinh thấy quyển “Đường vào hiện sinh” của Kisnamurti do Trúc Thiện dịch, Ngài đọc và ngộ được Chân lý Bát nhã. Bắt đầu từ đây, Ngài tìm đọc những quyển do Trúc Thiên, do cụ Mai Thọ Truyền dịch, quyển Phật học tinh hoa của Nguyễn Duy Cần,, Duy thức học của Giáo sư Thạc Đức,…

    Đến năm 1983, vì thời thế, Ngài trở về Tịnh xá Ngọc Vân. Đến năm 1985, Đức Trị sự Giác Như viên tịch, giao nhiệm vụ trụ trì lại cho Ngài. Khi trở về Tịnh xá Ngọc Vân, trong các buổi cúng hội, Ngài giảng chuyên về Chơn lý và dạy tu thiền định. Qua sự giảng dạy thu hút chư phật tử rất đông.

    Ngài lấy “Giới-Định-Tuệ” và “Trú dạ lục thời” làm gốc trên con đường tu của mình. Một hôm trong thiền định, Ngài ngấm ngộ Tứ Diệu Đế. Và ngay sau khi xả định, trong alaya tuôn trào, Ngài viết không ngừng nghỉ cuốn “Tứ Diệu Đế” trong vòng 15 phút. Cuốn “Tứ Diệu Đế” này vẫn còn lưu truyền cho đến ngày hôm nay, và chư phật tử lấy đó làm cẩm nang gối đầu giường. 

    Thời kỳ thứ hai:

    Qua thời gian giảng dạy, Ngài lâm trọng bệnh. Sau những ngày mê man, tỉnh dậy Ngài suy nghĩ, đối với Ngài, trong thời buổi này tu pháp môn Thiền tông khó mà đắc Thánh quả. Do đó Ngài nghĩ rằng pháp môn Tịnh độ nếu hành đúng sẽ được vãng sanh về thế giới Cực lạc thì một đời sẽ thành Phật. Lúc đó Ngài nhờ phật tử thỉnh quyển kinh A Di Đà của Tri Húc Đại Sư. Ngài đọc được câu thơ của Đại Sư Vĩnh Minh “có thiền, có tịnh như cọp mọc thêm sừng”. Từ đó Ngài quyết định “Thiền-Tịnh song tu”. Ngài bắt đầu nghiên cứu các kinh sách về Tịnh độ tông như : pháp môn Tịnh độ của Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Lá thư Tịnh độ của Ngài Quang Đại Sư, Niệm phật tập yếu của Ngài Thiền Tâm,…

    Từ đó, Ngài giảng dạy thiền tông phối hợp với Tịnh độ tông cho phật tử. Qua giảng dạy, Ngài đặt ra 6 câu hỏi về pháp môn Tịnh độ, phật tử từng bước trả lời các câu hỏi đó. Nhưng sau này khi nhiều chùa thỉnh Ngài giảng trong các ngày Phật thất, Ngài thêm một câu hỏi nữa, đến nay là 7 câu hỏi về pháp môn Tịnh độ.

    Trong 7 câu hỏi, nhưng đặc biệt là câu hỏi cuối cùng “Tu Tịnh độ có chắc chắn vãng sanh không?” Sau thời gian trả lời hết, cuối cùng Ngài kết luận câu này như sau: “Tu Tịnh độ, có đầy đủ Tín-Hạnh-Nguyện và Nguyện lực chí thành thì chắc chắn vãng sanh 101%. Nhưng không vãng sanh là ngoài ý muốn. Nếu gặp trường hợp này, người chết thức còn trong sáng liền về báo mộng cho bạn sen nhờ thỉnh quý Sư Trai tăng thì người này sẽ được vãng sanh.”

    Thời kỳ thứ ba:

    Qua kinh Trung Bộ, Ngài đọc được bài kinh Sáu Sáu, thấy Đức Phật giảng thực tế đi vào trong cuộc sống, sau khi Đức Phật giảng xong có 60 vị Tỳ kheo đắc quả Alahán. Và từ đây, mỗi ngày Ngài phối hợp Duy thức giảng bài kinh Sáu Sáu. Ngài đặt ra 6 câu hỏi. Sau khi phật tử trả lời hết 6 câu hỏi, khóa giảng kết thúc có nhiều phật tử xuất gia cầu giải thoát. Còn riêng Ngài thấy lối giảng này chưa được sáng tỏ, Ngài tìm chỗ ẩn tu để suy gẫm vào chiều sâu. Ngài tìm đến Sư Thức đang tu tịnh ở tỉnh Sa Đéc. Sư Thức là vị Sư được Nhị Tổ quan tâm, cũng là vị Sư mà Ngài thường hay nhắc đến trong lúc giảng pháp. 

    Trong thời gian tịnh tu, Ngài đặt thêm 4 câu hỏi nữa, tổng cộng là 10 câu hỏi của bài kinh Sáu Sáu. Song song đó, Ngài nghiên cứu kinh Thủ Lăng Nghiêm do bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám dịch. Ngài rất tâm đắc đoạn kinh Đức Phật chỉ dạy Ngài Anan nhận lại Bát nhã qua 6 căn ngay trong lúc đánh chuông,…

    Phật tử thỉnh Ngài giảng bài kinh Sáu Sáu lần 2. Lần này Ngài giảng tư tưởng lòng vào Bát nhã. Sau khi kết thúc khóa giảng lần 2, Ngài thấy chưa vừa ý. Ngài đi tịnh tu tại Đà Lạt, do phật tử Tịnh Giới cất cái cốc dưới thung lũng xa thành phố cho Ngài tịnh tu. Trong thời gian này, Ngài thường đi vào rừng sâu, suối, thác để nương cảnh tạo tâm.

    Và nhân duyên trong ngày tự tứ năm Phật lịch 2539, có một phật tử cúng dường quyển Lăng kính đại thừa của cụ Nghiêm Xuân Hồng. Sau vài tháng dược sĩ Trí con một phật tử cúng dường quyển Lăng nghiêm ảnh hiện, Tánh không và kinh Kim cang, Ma chướng trên đường tu,…của cụ Nghiêm Xuân Hồng. Ngài nghiên cứu đồng thời photo cho phật tử cùng nghiên cứu. Trong quyển Lăng nghiêm ảnh hiện, Ngài tâm đắc nhất là “24 bất tương ưng hành pháp” mà cụ trình bày về Duy thức.

    Năm 2007, phật tử thỉnh Ngài giảng bài kinh Sáu Sáu lần 3. Ngài giảng bài kinh Sáu Sáu phối hợp giữa kinh Nguyên thủy, Tiểu thừa, Đại thừa. Ngài chọn kinh Thủ Lăng Nghiêm, Duy thức và bộ sách của cụ Nghiêm Xuân Hồng và pháp môn Tịnh độ lồng vào bài giảng kinh Sáu Sáu. Lần này Ngài giảng đi vào chiều sâu của Bát nhã ứng dụng ngay trong thực tế cuộc sống. Sau 3 năm, kết thúc khóa giảng.

    Thời kỳ thứ tư:

    Thời gian này sức khỏe Ngài kém, Ngài định an trí, Ngài thường nói cho một ít phật tử thuần thành là Ngài chọn Sư Minh Hiệp kế thừa Ngài, sau khi Ngài viên tịch Sư Minh Hiệp hướng dẫn Tăng chúng.

    Ngài nhận định, giáo lý Bát nhã khó giảng, khó tiếp thu, sợ phật tử trong quá trình tu học rơi vào ngũ ấm ma. Từ đó Ngài gọi vài phật tử kết tập lại bài giảng của Ngài qua 5 chuyên đề: Muốn vãng sanh về xứ Cực lạc của Phật A Di Đà có mấy điều kiện, Nhận thức về Tái sanh - Chứng ngộ - Vãng sanh, Khổ Đế về Vũ trụ quan, Khổ Đế về nhân sinh quan, Nhân quả và nghiệp, được Ngài giám sát chặt chẽ lối hành văn có diễn đạt sáng tỏ giữa tư tưởng và Bát nhã hay không, có rơi vào ngũ ấm ma hay không. Bên cạnh đó lo về thân để phật tử tu thiền định dễ dàng, đồng thời giúp đỡ người nghèo khó, Ngài lập ra quán cơm gạo lức từ thiện. Song song đó lo về tâm, Ngài lập Ban Hộ niệm giúp đở người sắp lâm chung được vãng sanh về thế giới Cực lạc. Kết quả được nhiều người vãng sanh lưu lại xá lợi. 

    Sau thời gian được phật tử chăm sóc, sức khỏe Ngài đỡ hơn. Năm 2012, Phật tử thỉnh Ngài giảng bài kinh Sáu Sáu lần 4. Đợt giảng này rất đông phật tử mới (vài trăm người). Lần này, những buổi giảng đầu tiên Ngài đưa ra 3 câu chuyện: Sư Huyền Giác và Lục Tổ Huệ Năng, Tổ Bồ Đề Đạt Ma và vua Lương Võ Đế, Bảy trạm xe để trắc nghiệm lại trình độ Phật pháp của phật tử. Ngài thường khuyên phật tử nên tổ chức đi đến sông lớn, biển Ba Động ngồi thiện định, để thấy được cảnh mông lung, bao la mà soi rọi lại tâm của mình. Sau khi trắc nghiệm xong, Ngài thấy cần phải quay trở lại giảng “Bài học vở lòng” đó là 4 đường ác và người trời dục giới cho đến lúc Ngài đi ́n Độ.

    Năm 2013, tiết tháng 3 nắng nóng, Ngài định đi tịnh tu ở Đà Lạt, nhưng có những phật tử thỉnh Ngài đi chiêm bái Thánh tích của Đức Phật tại ́n Độ. Khi trở về, Ngài lâm trọng bệnh. Trong 5 ngày cuối, thân bệnh của Ngài diễn biến từng bước y như Ngài thường giảng pháp qua 3 thân đưa đến cảm giác, tư tưởng như thế nào. Ngài có cho mời Hòa Thượng Giác Giới là Trị Sự của Khất sĩ giáo đoàn 1 đến để Ngài trình bày rõ nguyện vọng của Ngài là “giao trụ trì lại cho Sư Minh Hiệp sau khi Ngài viên tịch”. 

    Trong thời gian này, các chư thiên mời Ngài giảng pháp. Lúc Ngài mở mắt ra, chư phật tử chăm sóc Ngài hỏi “Hồi nãy Sư nói gì mà chúng con nghe Sư giảng bài kinh Sáu Sáu rất rõ”. Ngài nói đang giảng kinh ở cõi Sắc. Thì phật tử đòi đi theo Ngài nghe giảng pháp ở cõi trời Sắc giới. Ngài nói mấy ông làm sao nhập định được mà đòi đi theo. Tối ngày 29 và qua ngày 30/3 âl, Ngài đi vào cõi mông lung, do đó các máy không đo được mạch và áp huyết của Ngài, nhưng mà Ngài rất là tỉnh táo. Sáng ngày 30/3, bác sĩ Tùng đến chăm sóc Ngài rồi lễ Ngài và nói “Bây giờ tùy Sư, Sư muốn chết thì chết, Sư muốn sống thì sống, chứ mạch và áp huyết như thế này thì người thường đã chết từ lâu rồi”. Ngài cười nói “cám ơn bác sĩ, làm phiền bác sĩ quá, không sao đâu.” Gần đến 3 giờ chiều, Ngài dặn dò quý Tăng và chư phật tử đôi điều rồi, và căn dặn tổ chức tang sự cho Ngài phải thật giản đơn để không hoang phí tiền bạc của chư phật tử. Ngài viên tịch lúc 3 giờ 30 phút chiều ngày 30/3/2013.

    Ngài viên tịch đã để lại nhiều ấn chứng như bắt đầu châm ngọn lửa hỏa táng, hào quang rực rỡ tỏa sáng bao quanh kim quan, tỏa sáng trên tháp hỏa và hào quang tỏa sáng cả bầu trời, ngoài ra còn để lại vô số xá lợi đủ màu sắc. Ngài quá từ bi, cuối cùng, Ngài còn sách tấn phật tử niệm Phật A Di Đà và phát nguyện sẽ chắc chắn được vãng sanh về thế giới Cực lạc.

    Chúng con nguyện sẽ tu học tinh tấn để được gặp Ngài ở Cực lạc quốc.